Khi ta bé dòng sông nào cũng rộng ý nghĩa | Chavez Oneill

Không có nỗi nhớ nào trào dâng lên trong biếc sâu tâm hồn bằng nỗi nhớ dòng sông quê khi ta đang sống giữa những ngày hè bỏng rát chốn phồn hoa. Con sông quê hương (Hà Tĩnh) đã chảy trong suối nguồn tâm tư ta từ thuở nhỏ, những bến sông lịch sử oai hùng, những bến sông bình dị… đều nặng nghĩa, nặng tình khiến ta nhung nhớ khôn nguôi…

Dẫu không phải là dòng sông quê hương, không phải là bến sông neo buộc tuổi đời thơ ấu nhưng bến sông Thọ Tường (Đức Thọ) vẫn thường trực trong nỗi nhớ của tôi từ ngày đầu gặp gỡ. Đó là một bến sông trầm mặc trên dòng sông La đầy thi vị trong thơ ca. Cho tới tận bây giờ tôi cũng không bao giờ quên được con đường đất quanh co u tịch từ thị trấn ra ngôi làng nhoài ra bến sông ấy. Không thể quên được buổi sáng đầy nắng khi tôi một mình đến tìm hiểu về làng chài ấy. Và gió, cơ man là gió từ bến sông thổi vào những căn nhà vừa mới dựng, thổi vào luỹ tre cong cong nơi rìa làng, thổi vào những gương mặt ngư dân còn nguyên vẻ khắc khổ của những năm tháng lênh đênh không nhà, không cửa.

Ảnh: Khánh Thành

Với tôi, bến sông dưới chân cầu Thọ Tường thuộc tổ dân phố 6 thị trấn Đức Thọ là một bến đỗ kỳ lạ bởi trên dặm dài lênh đênh sông nước, qua bao bến bờ của những làng mạc ven sông, hàng chục ngư dân Quảng Bình lại cùng lựa chọn nơi đây làm chỗ dừng chân. Và như một định mệnh của đời người, của lịch sử, những hộ dân vạn chài đã lần lượt được được chính quyền địa phương tạo điều kiện, cấp đất cho họ an cư lâu dài. Họ sinh con đẻ cái rồi con cái họ lại kết duyên với người bản địa, tiếp tục gắn bó với sóng nước La Giang.

Từng làm tổ trưởng tổ dân phố 6 trong giai đoạn 1997 – 2006, ông Nguyễn Tiến Long gần như chứng kiến toàn bộ cuộc “di cư” đặc biệt đó. Vào chừng đầu năm 1998, khi cái đói, cái nghèo còn đeo bám những con thuyền vạn chài, khi vùng ven sông quanh năm ngập trong lũ lụt này mới chỉ lác đác vài ngôi nhà của dân bản địa thì xuất hiện 2 con thuyền của gia đình ông Hoàng Văn Tự và ông Phạm Văn Thuỷ là ngư dân Quảng Bình phiêu dạt ra đây. Người dân Đức Thọ vốn hiền lành và hiếu khách, không chỉ dễ dàng chấp nhận sự có mặt của họ mà còn tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong cuộc sống. Thiếu ăn cho ăn, thiếu mặc cho mặc, khi đau ốm bệnh tật thì cưu mang đùm bọc như người làng, người xóm. Cảm nhận được tình yêu thương trìu mến của dân làng, dần dần con cháu của ông Tự, ông Thuỷ cũng kéo nhau ra sinh cơ lập nghiệp ở bến sông này.

Ảnh: Khánh Thành

Khi con số hộ vạn chài “định cư” ở đây lên đến hàng chục, cuộc sống lại nheo nhóc, không ổn định thì các bậc trưởng lão như ông Thuỷ, ông Tự bắt đầu làm đơn xin được cấp đất lên bờ sinh sống. Cảm thương những phận đời lênh đênh, nghèo khổ, cảm mến cái tình tha thiết của những người tha phương cầu thực, chính quyền thị trấn Đức Thọ đã xem xét và lần lượt cấp đất cho họ lên bờ.

Hôm nay, khi tôi trở lại làng chài này thì ông Hoàng Văn Tự đã về bên kia thế giới còn ông Phạm Văn Thuỷ cũng đã quay trở về Quảng Bình sinh sống. Thế nhưng, con cái của các ông vẫn ở lại đây, lập gia đình và vẫn mưu sinh bằng cái nghề các ông để lại. Trong buổi trưa yên bình trên con đường rợp bóng tre ven sông ấy, tôi đã gặp Phạm Văn Cần con trai thứ của ông Phạm Văn Thuỷ. Cần theo cha mẹ ra ở đây đã hơn 20 năm, chừng ấy thời gian là đã quá đủ cho một cuộc gắn bó, đủ để một người hoà nết ăn, nết ở của mình với một miền quê xa lạ. Hơn thế nữa, trong 20 năm ấy, Cần đã kịp lấy một cô vợ người bản địa và lần lượt sinh 4 người con. Bây giờ thì vợ chồng Cần đã cất được nhà cửa khang trang, hàng ngày vẫn bám theo con nước để mưu sinh. Cần nói, dòng sông La luôn ưu ái dân vạn chài, chỉ cần vợ chồng hoà thuận, chăm chỉ thì cuộc sống cũng khấm khá.

Ảnh: Huy Tùng

Nhìn những đứa con của Cần chạy nhảy nô đùa cùng những đứa bé trong xóm bên những dãy lưới bố mẹ chúng phơi phong, nhìn những bóng dáng phụ nữ lặng lẽ chuẩn bị ngư cụ cho chuyến đánh bắt buổi tối, một cảm giác bình yên, thân thương choáng ngợp lòng tôi. Tôi hiểu rằng, sông La với dòng chảy hiền hoà, mát ngọt từ bao đời đã bồi đắp cho cư dân ven sông những đức tính quý báu. Họ không chỉ cần cụ làm lụng còn dễ dàng sẻ chia, dễ dàng yêu thương đồng loại. Mềm mại và quấn quýt như nước với mạn thuyền. Bởi thế mà ngư dân Quảng Bình mới neo lại đây, sáng chiều ngụp lặn trên sông nước. Để chính họ cũng không hiểu tự bao giờ, mạch nguồn ngọt ngào ấy đã thấm quyện trong huyết quản họ. Cho họ cảm giác như mình được sinh ra từ chính miền quê sông nước này để có nghĩa vụ phải sống trọn vẹn với nó.

Ảnh: Thiện Chân

Bất kỳ lúc nào nghĩ về dòng sông quê hương, tôi cũng nghĩ về những câu thơ của Tế Hanh: “Quê hương tôi có con sông xanh biếc/Nước gương trong soi tóc những hàng tre/ Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng”. Những ai may mắn được lớn lên bên những dòng sông hẳn sẽ được gặp lại mình trong đó và không thôi nhung nhớ dòng chảy của quê hương. Cho đến tận bây giờ, tôi cũng không lý giải được vì sao dòng sông quê tôi lại mang tên Ngàn Phố, chỉ biết rằng, ký ức mà tôi có với dòng sông ấy, với bến sông làng tôi thì chẳng phố bao giờ, chỉ ngăn ngắt một màu quê. Bình yên và hồn hậu.

Ảnh: Nguyễn Thanh Hải

Đó là những tinh sương nằm trong căn phòng có khung cửa sổ mở ra bến sông lắng nghe tiếng lịch xịch neo buộc của những chuyến đò ngang. Đó là những trưa hè chang chang nắng đi câu cá, câu tôm trên những bến đá. Là những chiều ngụp lặn, trêu đùa những đứa bé vạn chài dong thuyền qua bến. Sông đã cấp nước cho ruộng đồng bờ bãi, cho ngô lúa lên xanh. Sông cũng đã nuôi dưỡng tâm hồn, tắm mát tuổi thơ cho bao bậc nhân tài trí dũng của đất nước. Những tên người, tên làng sinh ra từ sông, được sông nuôi dưỡng đã theo dòng chảy mãi, chảy vào lịch sử, văn hoá của quê hương, đất nước và chảy tới vô cùng trong vũ trụ vô thuỷ vô chung.

Sau này, trên muôn nẻo thiên lý, tôi còn được gặp gỡ rất nhiều dòng sông chở nặng ân tình khiến tâm tư luôn thao thiết nhớ. Đó là một Bạch Đằng lừng lẫy trong lịch sử với chiến thắng của Ngô Quyền. Đó là dòng Vàm Lũng (Cà Mau), ghi dấu tích con tàu Phương Đông 1 do anh hùng Bông Văn Dĩa làm thuyền trưởng mang theo 30 tấn vũ khí từ miền Bắc cập bến an toàn (16/10/1962), khai thông đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại. Đó là dòng sông Thạch Hãn nơi tuổi 20 của một thế hệ đã hoá thành sóng nước, “vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”. Là dòng Lam với bến Lách hiên ngang hứng chịu hàng ngàn tấn bom đạn, hàng trăm quả thuỷ lôi, pháo sáng của giặc Mỹ giữ cho huyết mạch giao thông ra tiền tuyến được thông suốt….

Những dòng sông đã ghi dấu tên tuổi của nó vào văn hoá, lịch sử đất nước, vào tâm tư con người theo sứ mệnh và cách riêng của nó. Dẫu bình dị hay hào hùng, dẫu lớn hay nhỏ, nông hay sâu vẫn vỗ mãi vào lòng người những lớp lang kỷ niệm. Để trong những khoảnh khắc ồn ã hay những khoảng lặng bình yên, giữa khúc quanh cuộc sống hay bằng phẳng đường đời ta đều thao thiết nhớ về những ân nghĩa của dòng trôi…

bài: Anh Hoài

Ảnh: đậu bình - nguyễn thanh hải

huy tùng - khánh thành - thiện chân

thiết kế: huy tùng

Ảnh: Nguyễn Thanh Hải

1:25:06:2018:07:18

I. Phần đọc hiểu:

Câu 1.

- Sự ra đời của dòng sông, theo đoạn trích: Từ những kẽ hở trên mặt đất, nước trào lên. Từ một dòng nước nhỏ, nước hòa vào với nước rơi từ trên trời và nước thấm vào đất để tạo nên một dòng suối nhỏ cứ chảy mãi xuống cho tới khi, một dòng sông ra đời.

Câu 2.

- Theo đoạn trích, món quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người trước khi hòa vào biển cả là những vùng châu thổ màu mỡ - những vùng nông nghiệp vĩ đại.

Câu 3.

Câu văn trên ẩn dụ về dòng chảy của nước và cuộc đời của mỗi con người: - Dòng chảy của nước luôn luôn vận động, không ngừng nghỉ và chứng kiến tất cả những hoạt động diễn ra thường ngày của con người. - Dòng chảy của nước chính là ẩn dụ cho cuộc đời của mỗi con người. + Cuộc đời mỗi con người cũng trải qua những giai đoạn sinh - lão - bệnh - tử, chứng kiến tất cả những hỉ nộ ái ố, những khía cạnh khác nhau của cuộc đời với nhiều trạng thái và cung bậc khác nhau. + Dòng sông chầm chậm trôi ẩn dụ cho cuộc đời mỗi con người, khi chúng ta biết sống chậm lại để lắng nghe và quan sát, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên sâu sắc hơn.

Câu 4.

Dựa vào nội dung đoạn trích, HS lựa chọn những bài học phù hợp. Sau đây là gợi ý: Bài học về lẽ sống mà văn bản muốn gửi gắm qua hành trình từ sông ra biển của nước: - Cuộc đời mỗi con người là hữu hạn, hãy sống thật ý nghĩa. Để giống như dòng chảy kia, khi vừa sinh ra, chúng ta chỉ là những giọt nước nhỏ bé được trào lên từ những kẽ hở trên mặt đất nhưng khi cuối đời, ta đã phát triển thành một vùng đất rộng lớn, góp phần làm nên những vùng nông nghiệp vĩ đại. - Cuộc sống chứa đựng muôn vàn thử thách và khó khăn, hãy mạnh mẽ như dòng chảy để có thể xuyên qua núi hay thậm chí tạo thành một hẻm núi, đánh bật lại những khó khăn của cuộc đời mình. - Cuộc sống có vô vàn màu sắc và cung bậc khác nhau, hãy sống chậm lại một chút để lắng nghe và tận hưởng những vẻ đẹp của cuộc đời, để từ đó bồi đắp thêm sự phong phú cho tâm hồn mỗi chúng ta.

II. Phần làm văn:

Câu 1:

Giới thiệu vấn đề: Sự cần thiết phải biết sống cống hiến Giải thích vấn đề: Phân tích vấn đề:
  • Khái niệm cống hiến: là sự tự nguyện, tự giác đem sức lực, tài năng và trí tuệ của mình để đóng góp cho lợi ích chung của xã hội
  • Sống cống hiến là không màng đến lợi ích cá nhân mà làm hết mình vì lợi ích chung, vì sự phát triển của một tập thể, một cộng đồng...
  • Cống hiến là một trong những đức tính và phẩm chất tốt đẹp của con người.
  • Cống hiến ngay từ những gì nhỏ bé nhất: ta có kiến thức - ta vận dụng kiến thức để phát minh, sáng tạo, cho sự nghiệp trồng người; ta có cơ bắp - ta lao động để tạo ra của cải vật chất

Câu 2: 1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả Xuân Quỳnh: Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Bà được xem là một trong những người viết thơ tình hay nhất trong nền thơ Việt Nam từ sau 1945. Đó là tình yêu vừa nồng nàn, sôi, say đắm, vừa tha thiết dịu dàng, vừa giàu trực cảm, lại lắng sâu trải nghiệm những suy tư. - Giới thiệu tác phẩm: “sóng” là tác phẩm tiêu biểu của Xuân Quỳnh được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” xuất bản năm 1968. Tác phẩm đã thể hiện khát vọng tình yêu như một nhu cầu tự nhận thức, khám phá. Cảm xúc thơ do vậy vừa sôi nổi mãnh liệt, vừa gợi tới chiều sâu của sự triết lí. - Giới thiệu luận đề: Cảm xúc về đoạn trích. Nhận xét vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. 2. Thân bài: Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm trong tác phẩm “Sóng” thuộc giới hạn từ khổ thơ thứ 3 đến khổ thơ thứ 5. Đoạn trích nói đến khát vọng tự nhận thức và nỗi nhớ trong tình yêu của người phụ nữ. Cảm nhận đoạn trích: * Khát vọng tự nhận thức của người con gái trong tình yêu (Khổ 3 và khổ 4) Hình tượng “sóng” diễn tả bản chất của tình yêu – sự bí ẩn không thể lý giải được của tình yêu:

Trước muôn trùng sóng bể .....

Khi nào ta yêu nhau

- Sự đối lập “em” >< “muôn trùng sóng bể” là sự đối lập giữa cái nhỏ bé, hữu hạn với cái vô biên, rộng lớn của vũ trụ -> Làm thức dậy những suy tư, trăn trở.

- “Em nghĩ” hai tiếng ấy lặp lại như là sự khám phá, tìm tòi.

+ Về biển lớn: “Từ nơi nào sóng lên?” -> Trả lời: “Sóng bắt đầu từ gió”

+ Về anh, em: “Khi nào ta yêu nhau?” -> Trả lời “Em cũng không biết nữa”

=> Hai câu hỏi đan cài vào nhau, nhập hòa vào một. Chúng ta có thể lý giải được cội nguồn của sóng, của gió nhưng không thể nào cắt nghĩa, lý giải được nguồn cội của tình yêu. Nó lạ lùng bí ẩn nhưng cũng rất tự nhiên. Sức hấp dẫn của tình yêu chính là ở chỗ đó. * Nỗi nhớ trong tình yêu (Khổ 5) Hình tượng “sóng” diễn tả nỗi nhớ trong tình yêu:

Con sóng dưới lòng sâu ....

Dù muôn vời cách trở

- Khổ năm đọng lại một chữ “nhớ”. Nỗi nhớ gắn với không gian “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, với “bờ”; nó bao trùm cả thời gian “ngày đêm không ngủ được”, và xâm chiếm tâm hồn con người, ngay cả trong vô thức “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”. Một tiếng “nhớ” mà nói được nhiều điều. Em đã hóa thân vào sóng. Sóng đã hoà nhập vào tâm hồn em để trở nên có linh hồn thao thức.

- Đây là khổ duy nhất trong bài có đến 6 câu thơ, sự phá cách ấy đã góp phần diễn tả sự trào dâng mãnh liệt của nỗi nhớ trong tình yêu. Nhận xét về vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. - Vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh chính là tiếng lòng của tâm hồn người phụ nữ khi yêu được thể hiện một cách dịu dàng, đằm thắm. - Bài thơ Sóng là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện nét nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. Tình yêu được thể hiện trong bài thơ vừa mạnh mẽ, nồng nàn lại vừa dịu dàng, sâu lắng, chính nó đã làm nên vẻ đẹp nữ tính trong hình tượng sóng. - Tình yêu đó còn chan chứa sự trăn trở, suy tư của người con gái khi yêu. Những băn khoăn, âu lo được Xuân Quỳnh thể hiện vô cùng mềm mại, nữ tính qua những câu hỏi như: Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau. - Tính nữ đó còn được thể hiện một cách bình thường, dung dị qua khao khát hạnh phúc đời thường - khao khát thường trực thể hiện trong thơ Xuân Quỳnh. Đó là nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, "cả trong mơ còn thức" của người con gái khi yêu. Là tình yêu mãnh liệt, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, sóng gió. Đó còn là khát khao tận hiến, khát vọng được hóa thân, được hòa nhập vào biển lớn tình yêu.

=> Bài thơ Sóng chính là một minh chứng rõ ràng nhất cho vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm cho thấy vẻ đẹp tâm hồn cũng như tấm lòng trắc ẩn của người phụ nữ khi yêu.