Lấy ví dụ bài toán về ý nghĩa phép cộng thêm gộp trong Toán tiểu học | Roscoe Danial Diya

* Kiến thức - Nhận biết được ý nghĩa của Phép cộng là “gộp lại”, là “thêm vào”. Biết tìm kết quả phép cộng trong phạm vi 10 bằng cách đếm tất cả hoặc đếm thêm, - Bước đầu nhận biết được đặc điểm của phép công với 0: số nào cộng với 0 cũng bằng chính số đó, 0 công với số nào bằng chính số đó . Vận dụng được đặc điểm này trong thực hành tinh - Thực hiện được phép cộng trong phạm vi 10 - Biết tính và tính được giá trị của biểu thức số có hai dấu phép tính cộng Theo thứ tự từ trái sang phải). - Bước đầu nhận biết tính chất giao hoán của phép cộng qua các công thức số (dạng 3+4  = 4 + 3). Vận dụng tính chất này trong thực hành tinh.

* Phát triển năng lực

Viết  được phép cộng phù hợp với tranh ảnh, hình vẽ hoặc tình huống thực tế có vấn đề cần giải quyết bằng phép cộng.

- Nêu được bài toán phù hợp với tranh vẽ, mô hình đã có; trả lời được câu hỏi của | bài toán.

II. CHUẨN BỊ

- Bộ đồ dùng dạy Toán 1 của GV.
- Bộ đồ dùng học Toán 1 của HS.

III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
1. Khởi động - Ổn định tổ chức

- Giới thiệu bài :

- Hát
- Lắng nghe
Tiết 1 . Khám phá: Gộp lại thì bằng mấy?  
a) Hình thành “khái niệm” ban đầu của phép cộng theo ý nghĩa là gộp lại. Cách tìm kết quả phép cộng dựa vào phép đếm và đếm tất cả. - HS theo dõi
- GV cho HS quan sát hình vẽ trong SGK để các em tự nêu vấn đề (bài toán) cần giải quyết các em có thể nêu: Ban Nam có 3 quả bóng bay.Bạn Mai có 2 quả bóng bay . Gộp lại cả  hai bạn có bao nhiêu quả bóng bay?
- GV hướng dẫn HS tự nêu câu trả lời: cả hai bạn có 5 quả bóng bay. Hay gộp lại, có 5 quả bóng bay .GV nêu đầy đủ: 3 quả bóng và 2 quả bóng là 5 quả bóng.GV gọi  một vài HS nhắc lại.
- HS quan sát
- Tương tự như vậy GV hướng dẫn HS quan sát hình trong SGK hoặc lấy 3 chấm tròn  màu đỏ và 2 chấm tròn màu xanh trong bộ đồ dùng học tập để nêu được 3 chấm tròn và 2 chấm tròn là 5 chấm tròn. - GV nêu: “3 chấm tròn và 2 chấm tròn là 5 chấm tròn,3 và 2 là 5” .

Gọi vài HS nêu laị: “3 và 2 là 5”

- HS quan sát

HS nêu laị: “3 và 2 là 5”

- GV nêu “Ta viết 3 và 2 là 5 như sau: 3+2=5 (viết lên bảng) đọc là: ba cộng hai là  năm” GV chỉ vào dấu + và nói dấu này là dấu cộng:
- GV gọi một vài HS đọc phép tính 3+2 = 5. GV gọi HS lên bảng viết  3 + 2 = 5 và đọc phép tính. GV có thể gọi một vài HS đứng tại chỗ trả lời câu hỏi “ba cộng hai bằng mấy?”.
- HS lên bảng viết
b) - GV cho HS quan sát hình vẽ trong SGK để các em tự nêu được 1 ô tô màu vàng và 3 ô tô màu đỏ là 4 ô tô (dựa vào đếm tất cả). GV cho HS đọc phép 1 + 3 = 4.
- GV gọi một vài HS lên bảng viết 1 + 3 = 4 và đọc phép tính. - GV gọi một vài HS đứng tại chỗ trả lời câu hỏi “một cộng ba bằng mấy?”.
- HS lên bảng viết
2. Hoạt động
*Bài 1: - Bài này nhằm củng cố “khái niệm” phép cộng theo ý nghĩa là gộp lại, tìm kết quả phép cộng dựa vào phép đếm tất cả.
- GV đọc và giải thích yêu cầu của đề bài rồi cho HS làm bài và chữa bài theo từng phần. GV có thể hướng dẫn HS quan sát, mô tả nội dung từng hình để tìm số thích hợp trong ô. Chẳng hạn: a) 1 quả táo màu đỏ và 1 quả táo màu xanh là 2 quả táo. Vậy số thích hợp trong ô là 2 (1 +1 = 2). Sau khi chữa bài, GV cho HS đọc từng phép tính.
- HS theo dõi

- HS đọc

Bài 2:
- GV đọc và giải thích yêu cầu của đề bài rồi cho HS làm bài. GV có thể hướng dẫn HS quan sát từng hình vẽ trong SGK để nêu tình huống bài toán tương ứng, từ đó tìm được số thích hợp trong ô. Chẳng hạn: a) Có 2 gấu bông màu vàng và 2 gấu bông màu đỏ. Hỏi có tất cả mấy gấu bông? Từ đó HS thấy được 2 và 4 là các số thích hợp (2 + 2 = 4).

b) Có 4 con vịt ở dưới nước và 1 con vịt ở trên bờ. Hỏi có tất cả mấy con vịt? Từ đó HS thấy được 1 và 5 là các số thích hợp (4+ 1 = 5).


- HS theo dõi
Bài 3: |- Bài tập này nhằm giúp HS biết biểu thị mối quan hệ giữa các số qua phép cộng, từ đó các em ghi nhớ các công thức công trong phạm vi 5. - GV cho HS quan sát, nhận xét bài mẫu để nhận ra trong môi trường hợp đều |cộng hai số ở hai ô dưới được số ở ô trên.

- GV cho HS làm rồi chữa bài. Sau mỗi phần, GV gọi HS đọc các phép tính


- HS đọc
3.Củng cố, dặn dò
- Bài học hôm nay, em biết thêm điều gì?
 

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tên đề tài: Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10. Họ và tên: Trần Thị Quỳnh Mai Đơn vị: Trường Tiểu học Phước Minh A 1. Lý do chọn đề tài Ngay từ những bài học đầu tiên về phép cộng, phép trừ. Tôi nhận thấy các em học sinh lớp 1 thường có những hạn chế sau: + Các em chưa nắm vững khái niệm cộng, trừ. + Chưa biết cách ghi nhớ bảng cộng thông qua tính chất giao hoán. + Chưa biết được mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ. Vì vậy làm thế nào để giúp các em khắc phục được những hạn chế trên? Đó chính là lý do tôi chọn đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10”. 2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:  Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10.  Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, dự giờ, thực nghiệm, thống kê. 3. Đề tài đưa ra giải pháp mới: Giúp học sinh thuộc được bảng cộng và trừ trong phạm vi 10, biết tính nhẩm và thực hiện thành thạo kĩ năng tính toán cộng, trừ trong phạm vi 10. 4. Phạm vi nghiên cứu:  Các bài toán từ tuần 7 đến hết tuần 17  Nghiên cứu ở lớp 1D năm học 2014- 2015 5. Hiệu quả áp dụng: Qua thực tế áp dụng đề tài ở lớp 1D hầu hết các em làm toán nhanh hơn, chính xác hơn đạt yêu cầu theo chuẩn kiến thức đề ra. Phước Minh, ngày 16 tháng 03 năm 2015 Người thực hiện Trần Thị Quỳnh Mai I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Chương trình môn Toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn Toán ở tiểu học, có vị trí mở đầu cho chương trình môn Toán của các lớp tiếp theo ở bậc Tiểu học. Lớp Một là lớp học đầu tiên của bậc tiểu học, khả năng tư duy của các em còn 1 rất hạn chế, còn mang nặng tính trực quan. Trong suốt quá trình học toán từ tuần 7 đến tuần 17, qua những bài học đầu tiên về phép cộng và phép trừ, tôi nhận thấy các em học sinh lớp 1 thường có những hạn chế sau: + Các em chưa nắm vững khái niệm cộng, trừ. + Chưa biết cách ghi nhớ bảng cộng thông qua tính chất giao hoán. + Chưa biết được mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ. Vì vậy làm thế nào để giúp các em khắc phục được những hạn chế trên? Đó chính là lý do tôi chọn đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10”. 2. Mục đích nghiên cứu: Đề tài này được nghiên cứu, trải nghiệm thực tế khi giảng dạy môn Toán cho học sinh ở lớp 1D Trường tiểu học Phước Minh A năm học 2014-2015. Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra cơ sở lý luận làm định hướng để đưa ra giải pháp giúp học sinh học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10 nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh. 3. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng: Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10. 4. Phạm vi nghiên cứu:  Các bài toán từ tuần 7 đến hết tuần 17  Nghiên cứu ở lớp 1D năm học 2014 - 2015 5. Phương pháp nghiên cứu:  Nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu liên quan đến phương pháp giảng dạy môn Toán. Tham khảo các buổi hội thảo, chuyên đề về môn Toán do ngành tổ chức từ năm 2002 đến nay.  Điều tra: Dự giờ các lớp để rút kinh nghiệm cho bản thân nhằm tìm biện pháp khả thi nhất cho công việc giảng dạy. Tiến hành dạy thử nghiệm cho giáo viên trong khối và Ban giám hiệu dự giờ nhằm góp ý xây dựng đề tài hoàn chỉnh hơn. 6. Giả thuyết khoa học: 2 Nếu các em học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10 thì sẽ giúp cho các em hoàn thành tốt chương trình toán lớp 1 và làm nền tảng vững chắc cho các em học tốt môn Toán ở các lớp trên. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: 1.1. Các văn bản chỉ đạo của Trung ương, địa phương, của ngành: Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình Giáo dục Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo 3 khoa và chỉ đạo dạy học phù hợp với đối tượng học sinh ở các vùng miền khác nhau như:  Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT; ngày 05 tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông - cấp tiểu học. Trong đó có chuẩn kiến thức kĩ năng của từng môn học. Đây là giải pháp cơ bản trong hệ thống các giải pháp đảm bảo cho việc dạy học ở tiểu học đạt mục tiêu đề ra, góp phần khắc phục tình trạng “quá tải” trong giảng dạy, từng bước ổn định và nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học.  Công văn số 9832/BGDĐT-GDTH; ngày 01 tháng 09 năm 2006 về việc hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học.  Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT; Hà Nội ngày 28 tháng 8 năm 2014 Thông tư ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học.  Công văn số 5842/BGDĐT- VP; ngày 1 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn cấp Tiểu học. 1.2. Các quan niệm khác về giáo dục: Chương trình môn Toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn Toán ở tiểu học, có vị trí mở đầu cho chương trình môn Toán của các lớp tiếp theo ở bậc Tiểu học. Chương trình này có ý nghĩa, vai trò qua trọng là đã kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy học toán lớp 1 ở nước ta; đã mở đầu cho việc thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học ở tiểu học, đáp ứng những yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Dạy học môn Toán ở lớp 1 nhằm giúp học sinh: Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm; về các số tự nhiên trong phạm vi 100; về phép cộng, trừ (không nhớ) trong phạm vi 100. Hình thành và rèn luyện các kĩ năng: Đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạm vi 100; cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 100. Giáo dục học sinh tính chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học toán. 2. Cơ sở thực tiễn: 4 2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu: Qua thực tế giảng dạy ở lớp 1, tôi thấy các em còn gặp khá nhiều hạn chế trong quá trình học toán cộng, trừ trong phạm vi 10 như sau:  Chưa biết viết phép cộng ứng với tình huống thực tế có vấn đề giải quyết bằng phép cộng hoặc phép trừ.  Chưa thuộc bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi 10.  Cộng, trừ nhẩm rất chậm, vẫn còn hiện tượng xòe tay đếm từng số.  Chưa nhận biết mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ. Tìm hiểu nguyên nhân tôi nhận thấy chủ yếu là do:  Các em chưa thực hiện được thao tác: Cộng có nghĩa là: “gộp” hai nhóm đồ vật lại rồi đếm toàn bộ số đồ vật có trong 2 nhóm; Trừ có nghĩa là: “tách” một nhóm đồ vật từ một tập hợp đồ vật đã cho, rồi đếm số đồ vật còn lại.  Chưa biết cách ghi nhớ bảng cộng và trừ trong phạm vi 10 thông qua tính chất giao hoán của phép cộng và quan hệ giữa phép cộng và phép trừ qua các ví dụ bằng số. 2.2. Sự cần thiết của đề tài: Trẻ học xong lớp 1 giai đoạn cộng và trừ trong phạm vi 10 cần đạt yêu cầu cơ bản như sau:  Về phép cộng các số trong phạm vi 10: + Biết sử dụng các thao tác để minh họa, giải thích ý nghĩa của phép cộng (“thêm”, “gộp” ứng với phép cộng) + Biết viết phép cộng ứng với tình huống thực tế có vấn đề cần giải quyết bằng phép cộng. + Thuộc bảng cộng trong phạm vi 10 và biết cộng nhẩm thành thạo trong phạm vi 10. + Nhận biết bước đầu tính chất giao hoán của phép cộng (thông qua các ví dụ cụ thể).  Về phép trừ các số trong phạm vi 10: + Biết sử dụng các thao tác để minh họa, giải thích ý nghĩa của phép trừ. + Biết viết phép trừ ứng với tình huống thực tế có vấn đề cần giải quyết bằng phép trừ. 5 + Thuộc bảng trừ trong phạm vi 10 và biết trừ nhẩm thành thạo trong phạm vi 10 + Nhận biết mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ (thông qua ví dụ cụ thể). Biết 5 + 3 = 8 thì tìm ngay được 8 – 3 = 5 và 8 – 5 = 3. + Nhận biết bước đầu đặc điểm của phép cộng, phép trừ với 0 + Biết tìm một thành phần chưa biết trong phép tính nhờ thuộc bảng cộng, bảng trừ. + Biết tính giá trị các biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ 3. Nội dung vấn đề: 3.1. Vấn đề đặt ra: 3.1.1. Mục tiêu: Hình thành khái niệm ban đầu về phép cộng và phép trừ. Thành lập và ghi nhớ bảng cộng, trừ trong phạm vi 10. Biết làm đúng các phép tính cộng, trừ (không nhớ) (tính nhẩm và tính viết) trong phạm vi 100. Nhận biết tính chất giao hoán của phép cộng và quan hệ giữa phép cộng, phép trừ thông qua các ví dụ bằng số. 3.1.2. Nội dung dạy học “Phép cộng và phép trừ” được sắp xếp theo trình tự:  Phép cộng trong phạm vi 3, 4, 5.  Số 0 trong phép cộng.  Phép trừ trong phạm vi 3, 4, 5.  Số 0 trong phép trừ.  Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10.  Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10.  Phép cộng có dạng 14 + 3; phép trừ có dạng 17 – 3 và 17 – 7  Cộng, trừ các số tròn chục.  Phép cộng và phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100. 3.2. Giải pháp giải quyết vấn đề: 6 3.2.1. Giúp các em nắm vững khái niệm ban đầu về phép cộng và phép trừ:  Phép cộng hai số tự nhiên được hiểu như là phép hợp của hai tập hợp không có phần tử chung. Với cách hiểu này, có thể hình thành cho học sinh khái niệm phép cộng như sau: Tôi hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác “gộp” hai nhóm đồ vật rồi đếm toàn bộ số đồ vật có trong hai nhóm. Ví dụ: Bài “Phép cộng trong phạm vi 4” Tôi cho gộp 3 que tính với 1 que tính, nhận được 4 que tính. Ghi lại hoạt động này bằng phép cộng 3 + 1 = 4. Sau đó, để củng cố nhận thức của học sinh, cho học sinh quan sát trên hình vẽ: mỗi nhóm vật được tách riêng bởi một đường gạch ngang, rồi bao quanh cả hai nhóm đó bằng một đường cong kín (hình ảnh của sơ đồ Ven).  Ngoài ra, với ý nghĩa phép cộng hai số tự nhiên như là phép “đếm thêm” thì có thể hình thành cho học sinh khái niệm phép cộng như sau:  Tôi yêu cầu học sinh quan sát hình vẽ trong bài: Phép cộng trong phạm vi 5 (hoặc mô hình tương ứng) để nêu thành vấn đề cần giải quyết. Chẳng hạn: “Có 4 con gà, thêm 1 con gà nữa. Hỏi có tất cả mấy con gà?”  Học sinh nêu câu trả lời: “4 con gà thêm 1 con gà là 5 con gà. 4 thêm 1 bằng 5”.  Giáo viên nêu: “bốn thêm một bằng năm” rồi viết lên bảng: “4 cộng 1 bằng 5” và viết tiếp “4 + 1 = 5”; dấu “+” gọi là “cộng”.  Với cách hình thành như thế đến các bài sau, tôi chỉ cần đính vật mẫu lên bảng các em sẽ tự đặt bài toán, tự trả lời sau cùng các em tự viết phép tính thích hợp với yêu cầu bài toán đã đặt ra. Khi dạy đến các bài phép cộng trong phạm vi 7, 8, 9,10. Các bài toán về phép cộng với ý nghĩa “thêm” thường được nêu dưới dạng sau: Tôi thường đặt yêu cầu cao hơn một chút nhằm tạo cho các em kĩ năng giải toán có lời văn sau này. Ví dụ: Trong bài Phép cộng trong phạm vi 9: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn? 7 Với những bài này tôi thường đặt câu hỏi như sau: Lúc đầu tổ em có mấy bạn? sau đó thêm mấy bạn nữa? thêm vào ta làm phép tính gì? Vậy các em hãy viết phép tính thích hợp với bài toán. Cần chú ý là ngay từ khi làm quen với việc “đếm thêm 1” học sinh đã bước đầu được chuẩn bị cho việc học phép cộng.  Phép trừ được hiểu thông qua thao tác “tách” (lấy đi) một bộ phận từ một tập hợp đã cho. Nghĩa là có một “toàn thể” và các tập hợp bộ phận, người ta lấy ra một bộ phận từ cái toàn thể đó. Với cách hiểu này, có thể hình thành cho học sinh khái niệm phép trừ như sau: Tôi hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác “tách” một nhóm đồ vật từ một tập hợp đồ vật đã cho, rồi đếm số đồ vật còn lại. Ví dụ: Khi dạy bài “Phép trừ trong phạm vi 3” Có một nhóm gồm 3 que tính, tách rời ra 1 que tính thì bộ phận còn lại có 2 que tính. Ghi lại hoạt động này bằng phép trừ 3 – 1 = 2. Sau đó, để củng cố nhận thức, cho học sinh quan sát trên hình vẽ trong sách giáo khoa: tập hợp đã cho được bao quanh bằng một đường cong kín ở ngoài cùng (với nền màu xanh). Mỗi tập hợp bộ phận được bao quanh bởi một đường cong nhỏ với nền màu trắng. Tập hợp đã cho gồm 3 chấm tròn. Các phép trừ 3 – 1 và 3 – 2 tương ứng với việc tách ra các bộ phận gồm 1 hoặc 2 chấm tròn. Các bài toán về phép trừ với ý nghĩa “tách” thường được nêu dưới dạng sau: Ví dụ: Trong bài Phép trừ trong phạm vi 5: Tôi đính lên bảng 5 con gà, Sau đó tôi tách thành hai nhóm, một nhóm 4 con và một nhóm 1. Tôi hỏi: 5 gồm mấy và mấy? Các em sẽ trả lời 5 gồm 4 và 1 hoặc 5 gồm 1 và 4. Tôi hỏi tiếp: Thế 5 con gà tách đi 1 con gà còn mấy con gà? hoặc 5 con gà tách đi 4 con gà còn mấy con gà? Các em nhìn vào vật mẫu nhanh chóng trả lời: 5 con gà tách đi 1 con gà còn 4 con gà? hoặc 5 con gà tách đi 4 con gà còn 1 con gà? Dựa vào bài toán các em hãy viết phép tính thích hợp. Các em sẽ viết vào bảng con 5 – 1 = 4, 5 – 4 = 1 Ngoài ra, có thể hình thành cho học sinh khái niệm phép trừ như là việc “bớt đi” như sau:  Học sinh quan sát hình vẽ trong bài học (hoặc mô hình tương ứng) để nêu thành vấn đề cần giải quyết. Chẳng hạn trong bài Phép trừ trong phạm vi 3, học sinh quan sát hình vẽ và nêu: “Lúc đầu có 2 con ong đậu trên bông hoa, sau đó 1 con ong bay đi. Hỏi còn lại mấy con ong?” 8  Học sinh tự nêu câu trả lời: “Lúc đầu có 2 con ong, một con ong bay đi, còn lại một con ong”.  Tôi nêu: “Hai con ong bớt (bay đi) một con ong, còn một con ong. Hai bớt một còn một”. Tôi viết lên bảng: “Hai trừ một bằng một” và viết tiếp 2 – 1 = 1; dấu “–” gọi là “trừ”.  Các bài toán về phép trừ với ý nghĩa “bớt” thường được nêu dưới dạng sau: Ví dụ: Trong bài Phép trừ trong phạm vi 8: Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con bay đi. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim? Với dạng bài này tôi cho cá nhân học sinh nhìn tranh tự đặt đề toán như sau: Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con bay đi. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim? Cá nhân học sinh khác sẽ trả lời: Có 8 con chim bay đi 2 con chim còn lại 6 con chim. Tôi lại hỏi: “bay đi” có nghĩa là “bớt đi” các em thực hiện phép tính gì? Hãy viết phép tính thích hợp với bài toán vừa nêu. 3.2.2. Giúp học sinh biết cách thành lập bảng cộng, trừ trong phạm vi 10: * Dạy học bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 được tiến hành theo 2 bước sau:  Thành lập bảng (chẳng hạn, bảng cộng trong phạm vi 6).  Để thành lập được mỗi phép tính trong bảng có thể tiến hành như sau:  Tôi cho học sinh thao tác trên các mẫu vật, quan sát tranh vẽ rồi phát biểu bằng lời. Chẳng hạn: “có 5 quả táo, thêm 1 quả táo. Hỏi có tất cả mấy quả táo?”. + Cho tất cả học sinh đếm số quả táo rồi nêu câu trả lời: “5 quả táo thêm 1 quả táo được 6 quả táo”. + Từ đó học sinh tự phát hiện kết quả của phép cộng 5 + 1 = 6… + Giáo viên viết 5 + 1 = 6 lên bảng và cho học sinh đọc lại: “5 cộng 1 bằng 6”. Cũng số vật mẫu đó nhưng tôi đổi lại 1 quả táo thêm 5 quả táo, cho học sinh tự quan sát và nhận xét: “5 + 1 cũng bằng 1 + 5” rồi học sinh tự nêu kết quả của phép cộng 1 + 5 = 6, giáo viên viết 1 + 5 = 6 lên bảng và cho học sinh đọc: “1 cộng 5 bằng 6”. Sau đó, cho học sinh đọc lại cả hai công thức: 5 + 1 = 6 và 1 + 5 = 6. 9  Tổ chức cho học sinh thành lập các công thức còn lại theo cách tương tự như trên. Nếu học sinh tự tìm được kết quả thì không nhất thiết phải lặp lại tất cả các thao tác cụ thể.  Tôi tập hợp tất cả các công thức được thành lập thành một bảng và gợi ý các em thấy được điểm giống nhau của các phép tính này là đều thực hiện phép tính cộng, kết quả đều bằng 6. Từ đó các em sẽ rút ra được tên bài học là “Phép cộng trong phạm vi 6” 5+1=6 1+5=6 4+2=6 2+4=6 3+3=6 * Tổ chức cho học sinh học thuộc bảng cộng, trừ bằng nhiều hình thức: - Trước hết tôi cho cá nhân đọc nối tiếp từng công thức. - Tôi xóa bảng từng phần khuyến khích các em tái hiện từng phần công thức. Sau đó xóa hết bảng yêu cầu một số học sinh đọc thuộc lòng toàn bộ công thức trong bảng. Kế tiếp tôi cho các em thi đua nhớ và đọc theo nhóm. Cuối cùng cả lớp đọc đồng thanh các công thức trong bảng. - Làm các bài tập thực hành tính hoặc tổ chức các trò chơi học tập. Thuộc lòng các bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 là một yêu cầu quan trọng. Điều này sẽ giúp học sinh làm tính đúng trong phạm vi 10 và chuẩn bị cho học cộng, trừ ở các vòng số sau. Trong quá trình hình thành bảng cộng, chú ý sử dụng nhận xét về tính chất giao hoán của phép cộng để thấy được quan hệ giữa các công thức và cách ghi nhớ các công thức. * Thực hành vận dụng bảng: Thông qua các bài tập thực hành tính (theo hàng ngang hay theo cột dọc) Trong sách giáo khoa và vở bài tập, học sinh thực hành vận dụng các công thức đã học trong bảng. Chú ý, với các bài tập dạng tính: 3 + 2 + 1 = …, học sinh không cần viết bước tính trung gian nhưng biết phát biểu: “3 cộng 2 bằng 5, 5 cộng 1 bằng 6, viết 6”. 10 3.2.3. Giúp học sinh nhận biết tính chất giao hoán của phép cộng: - Cần giúp học sinh nhận biết tính chất giao hoán của phép cộng thông qua các hoạt động sau: - Bước đầu làm quen với tính chất giao hoán của phép cộng thông qua các ví dụ bằng số. Chẳng hạn, giới thiệu phép cộng 3 + 2 = 5 thì cũng giới thiệu luôn phép cộng 2 + 3 = 5. Học sinh dần dần nhận biết “các số 3 và 2 đổi chỗ cho nhau nhưng kết quả phép cộng không có gì thay đổi”. Chưa yêu cầu học sinh phát biểu hoặc giải thích bằng tính chất này. - Chú ý sử dụng nhận xét về tính chất giao hoán của phép cộng để thấy được quan hệ giữa các công thức và cách ghi nhớ các công thức trong bảng cộng. Chẳng hạn, biết 4 + 2 = 6 thì tìm ngay được 2 + 4 = 6. - Thực hành làm bài tập dạng: Ví dụ: Tính nhẩm: 4+2=… 1+5=… 3 +3 =… 2+4=… 5+1=… 3.2.4. Giúp học sinh nhận biết về quan hệ giữa phép cộng và phép trừ: - Thông qua các ví dụ bằng số, tôi giúp học sinh nhận biết được: Phép trừ là phép toán ngược lại của phép cộng. - Thông qua so sánh trên các ví dụ cụ thể tôi cho học sinh nhận biết: Từ một phép cộng ta có được hai phép trừ Ví dụ: Nếu biết 3 + 2 = 5 thì có thể tìm ngay được là 5 – 3 = 2 và 5 – 2 = 3. - Trong thực hành học sinh thường gặp “bộ ba” các phép tính dạng: 5+4= 9–5= 9–4= 3.3. Phương pháp dạy toán: 3.3.1. Phương pháp dạy học bài mới: a. Giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học: Phần bài học thường được nêu thành cùng một loại tình huống có vấn đề. Chẳng hạn, cùng nêu về hiện tượng có một số (một, hai) con ong bay khỏi chỗ đậu của ba con ong. Tôi hướng dẫn HS quan sát hình vẽ (tranh, ảnh,…) trong Toán 1 hoặc sử dụng đồ dùng thích hợp để HS tự nêu ra vấn đề cần giải quyết (chẳng hạn, 11 có ba con ong đậu trên bông hoa, một con ong bay ra khỏi bông hoa, còn mấy con ong đậu trên bông hoa?), rồi tự HS tham gia giải quyết vấn đề (ba con ong bớt một con ong còn hai con ong). Thời gian đầu, Tôi hướng dẫn HS nêu và giải quyết vấn đề. Dần dần tôi yêu cầu HS tự nêu và tự giải quyết vấn đề. b. Giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới Có loại bài học, sau khi HS đã phát hiện và giải quyết vấn đề, tôi hình thành kiến thức mới (chẳng hạn, tôi phải giới thiệu: ba con ong bớt một con ong còn hai con ong; ba bớt một còn hai; ta viết 3 – 1 = 2; đọc là “ba trừ một bằng hai”; dấu – gọi là “trừ”…). Có loại bài học tôi giúp HS tự nêu tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng kiến thức mới (chẳng hạn, bài học về phép cộng trong phạm vi 8, HS quan sát hình vẽ rồi nêu vấn đề: “Có 7 hình vuông thêm 1 hình vuông. Hỏi có tất cả mấy hình vuông?” và giải quyết vấn đề: “7 thêm 1 thành 8”, sau đó viết 8 vào công thức cộng: 7 + 1 = 8). Đương nhiên, trong cả hai loại bài học nêu trên, tôi giúp HS ghi nhớ kiến thức mới (chẳng hạn các công thức tính). Cho dù HS đã học thuộc kiến thức mới thì cũng chỉ là bước đầu chiếm lĩnh được kiến thức mới đó. Phải qua thực hành, vận dụng kiến thức mới đó để giải quyết các vấn đề nêu trong phần bài tập thì mới có thể khẳng định HS đã tự chiếm lĩnh kiến thức mới đến mức độ nào. Vì vậy, sau khi đã thuộc bài mới, HS phải làm được các bài tập. Ví dụ khi dạy bài: “Phép cộng trong phạm vi 6”: Sau khi đã hình thành kiến thức mới, đến phần thực hành, tôi yêu cầu các em nhìn Sách làm bài tập 1 vào bảng con, bài tập 2 các em nhẩm kết quả sau đó nối tiếp nhau nêu kết quả vừa tính xong. Khi các em đã hoàn thành hai bài tập trên, có nghĩa là các em đã nắm chắc lượng kiến thức trọng tâm của bài học này. c. Giúp học sinh cách thức phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới: Quá trình dạy học toán phải dần dần giúp HS cách thức (con đường, phương pháp) phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Chẳng hạn, qua các bài học và luyện tập về số và phép tính trong phạm vi 10 của Toán 1 có thể giúp HS:  Từ tình huống có thực trong đời sống (thể hiện trong tranh, hình vẽ, mô hình, mô tả bằng lời) nêu được vấn đề cần giải quyết (dưới dạng câu hỏi, bài toán). 12  Ví dụ: Trong bài “Phép cộng trong phạm vi 10” Tôi đính một nhóm có 9 con gà và một nhóm có 1 con gà. Tôi yêu cầu các em nhìn vật mẫu tự đặt đề toán như sau: Có 9 con gà thêm 1 con gà. Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà?  Giải quyết vấn đề đó sẽ góp phần tìm ra kiến thức mới (số mới hoặc công thức tính mới…). Dựa vào cách đặt đề toán của bạn, tôi yêu cầu các em khác nêu cách giải đề như sau: Có 9 con gà thêm 1 con gà được 10 con gà. Sau đó yêu cầu các em viết phép tính thích hợp với bài toán vừa nêu: 9 + 1 = 10.  Xây dựng rồi ghi nhớ và vận dụng kiến thức mới vào các tình huống khác nhau trong thực hành sẽ chiếm lĩnh được kiến thức mới đó. Cũng từ vật mẫu có sẵn tôi yêu cầu các em tự phát hiện và viết tiếp phép tính thứ hai cho thích hợp là : 1+ 9= 10. Các phép tính còn lại: 8 + 2; 2 + 8; 7 + 3; 3 + 7; 6 + 4; 4 + 6; 5 + 5, tôi chỉ cần thay đổi vật mẫu cho phong phú và phù hợp với nội dung phép tính cần hướng đến đính lên bảng, sau đó yêu cầu các em nhìn vật mẫu viết phép tính thích hợp d. Hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học:  Huy động kiến thức đã học và vốn sống để phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới.  Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã có. Chẳng hạn: Khi hướng dẫn HS nhận biết khái niệm ban đầu về số 6, Tôi cho HS quan sát tranh vẽ (mô hình) và sử dụng kiến thức đã học để nhận ra (bằng phép đếm) rằng: có 5, đếm tiếp 1 được 6. Khi đã giới thiệu 6 cũng là đại diện cho một lớp các nhóm đối tượng có cùng số lượng (là 6) như các số đã học trước, HS tự nhận ra (qua phép đếm, qua phân tích số,…) 6 đứng tiếp sau 5 trong dãy số 1, 2, 3, 4, 5, 6; 6 là 5 và 1; 6 là 4 và 2; 6 là 3 và 3; nên 6 > 1; 6 > 2; 6 > 3; 6 > 4; 6 > 5; do đó 6 là số lớn nhất trong các số từ 1 đến 6. e. Giúp học sinh thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng kí hiệu. Trong quá trình dạy học Toán, tôi luôn quan tâm đến việc rèn luyện cho HS cách diễn đạt ngắn, gọn, rõ ràng vừa đủ nội dung của một thông tin bằng lời hoặc bằng kí hiệu, sơ đồ. 3.3.2. Phương pháp dạy thực hành, luyện tập: 13 Nhiệm vụ chủ yếu nhất của dạy thực hành, luyện tập (trong tiết dạy học bài mới và trong tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập) là củng cố các kiến thức mà HS mới chiếm lĩnh được. Có thể dạy thực hành, luyện tập như sau: Ví dụ khi dạy bài “Luyện tập” trang 82 mang nội dung của bài “Phép cộng trong phạm vi 10” tôi yêu cầu các em nhìn sách giáo khoa nêu yêu cầu của từng bài tập và yêu cầu các em thực hiện với nhiều hình thức học tập như sau: Bài tập 1: Các em nhẩm kết quả từng bài trong sách giáo khoa, sau đó nối tiếp nhau đọc kết quả vừa tìm được, cả lớp cùng lắng nghe và nhận xét. Bài tập 2: Các em làm vào bảng con. Sau đó cá nhân sẽ đính bảng con trên bảng lớp đọc kết quả bài làm của mình cho cả lớp vừa dò bài vừa nhận xét. Bài tập 3: Các em sẽ nhẩm kết quả ghi trên bảng phụ trong 2 phút, sau đó lần lượt lên điền số thích hợp vào chỗ trống, các em còn lại kiểm tra và nhận xét. Bài tập 4: Các em sẽ làm vào vở, tôi đi kiểm tra và nhận xét bài cho từng em. Bài tập 5: Các em nhìn tranh và viết phép tính thích hợp vào bảng con, đại diện nhóm thi đua viết trên bảng lớp. a. Giúp học sinh nhận ra kiến thức mới trong các dạng bài tập khác nhau: Khi luyện tập, nếu HS nhận ra các kiến thức đã học trong các mối quan hệ mới thì HS sẽ làm được bài. Nếu HS không tự nhận ra kiến thức đã học trong các dạng bài tập khác nhau thì tôi giúp HS bằng gợi ý, hướng dẫn để HS nhớ lại kiến thức và cách làm, không vội làm thay HS. Chẳng hạn, sau khi học “Phép cộng trong phạm vi 8” nếu làm các bài tập dạng 7 + 1 =…, 5 + 3 = … thì HS dễ dàng nhớ lại và sử dụng các công thức đã học; nhưng với dạng bài tập phải so sánh hai biểu thức số như 7 + 1 … 2 + 6 thì HS phải nhận ra 7 + 1 và 2 + 6 đã gặp trong các công thức đã học: 7 + 1 = 8; 2 + 6 = 8, do đó phải điền dấu = vào chỗ chấm: 7 + 1 = 2 + 6. b. Giúp học sinh tự thực hành, luyện tập theo khả năng của học sinh:  Bao giờ tôi cũng yêu cầu HS phải làm các bài tập theo thứ tự sắp xếp trong sách (hoặc do tôi sắp xếp), không tự ý lướt qua hoặc bỏ qua bài tập nào, kể cả các bài HS cho là dễ. (Trừ những bài có trong nội dung giảm tải) 14  Tôi không để thời gian chết, HS phải chờ đợi, ngồi chơi trong thời gian các bạn khác đang làm bài tập. HS nào đã làm xong và tự kiểm tra (hoặc giơ tay nhờ GV kiểm tra) hoàn thành bài 1 thì nên chuyển sang làm bài tiếp sau. Trong một tiết học phải chấp nhận có HS làm được nhiều bài tập hơn HS khác. Tuy nhiên bên cạnh đó còn một số em làm bài chậm, rất cần sự hỗ trợ và giúp đỡ của cô giáo. Với những em này, tôi giao bài vừa sức và đến tận nơi chỉ dẫn cho các em. c. Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh:  Khi cần thiết có thể cho HS trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc toàn lớp về cách giải hoặc nhiều cách giải một bài tập. Tôi khuyến khích HS bình luận về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến ở nhóm, ở lớp.  Tạo sự hỗ trợ giữa các HS trong nhóm, giúp HS tự tin vào khả năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của mình. d. Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành, luyện tập: Sau mỗi lần thực hiện xong bài tập, tôi hướng dẫn HS như sau:  Tập cho HS thói quen làm xong bài nào cũng phải tự kiểm tra lại xem có làm nhầm, làm sai không.  Hướng dẫn HS tự đánh giá bài làm của mình, của bạn rồi báo cho cô giáo.  Khuyến khích HS tự nói ra những hạn chế của mình, của bạn sau khi tự kiểm tra, tự đánh giá… e. Tập cho học sinh thói quen không thỏa mãn với bài làm của mình, với các cách giải đã có:  Sau mỗi tiết học, tiết luyện tập tôi luôn tạo cho HS niềm vui vì đã hoàn thành công việc được giao, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân (bằng khuyến khích, nêu gương …).  Tôi luôn động viên khuyến khích cho HS tìm được giải pháp tốt nhất cho bài làm của mình. Vì vậy cho dù đã hoàn thành bài học hoặc bài làm, HS cũng vẫn không thỏa mãn những gì đã đạt được. HS cần tự kiểm tra, tự đánh giá và luôn luôn tìm cách hoàn thiện việc đã làm. Các “bài tập mở” trong Toán lớp1 là phương tiện để tôi động viên HS tìm nhiều phương án giải quyết một vấn đề và biết tự lựa chọn phương án hợp lí nhất. 15 Không bao giờ “áp đặt” HS theo phương án có sẵn, động viên các em tìm và lựa chọn phương án tốt nhất. 4. Kết quả đề tài: Bảng thống kê diễn biến kết quả kiểm tra của học sinh lớp 1D sau khi thực hiện đề tài như sau Thời gian Giai đoạn từ tháng 9- tháng 12, năm học 2013 – 2014 Khi chưa áp dụng đề tài Giai đoạn từ tháng 9- tháng 12, năm Năm học 2014 – 2015 Sau khi áp dụng đề tài Lớp TSHS Biết cộng, trừ nhẩm Thực hiện được phép tính cộng, trừ Thuộc bảng cộng, trừ Biết mối quan hệ giữa phép cộng và trừ Số lượng HS Tỉ lệ (%) Số lượng HS Tỉ lệ (%) Số lượng HS Tỉ lệ (%) Số lượng HS Tỉ lệ (%) 1G 14 em 5 35.7 6 42.9 5 35.7 6 42.9 1D 33 em 33 100 33 100 33 100 32 97.0 Sau quá trình vận dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy các em có nhiều chuyển biến rõ rệt. Chứng tỏ các em đã thích ứng với phương pháp học tập mà tôi đã đề ra. 5. Phạm vi áp dụng: Với “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10”, tôi đã trải nghiệm không chỉ riêng học sinh lớp 1D, mà còn nhân rộng cho các lớp ở khối 1 trường Tiểu học Phước Minh A và các trường lân cận. 16 III. KẾT LUẬN: 1. Bài học kinh nghiệm: Sau khi thực hiện đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10” bản thân tôi đã rút ra những kinh nghiệm sau:  Nắm vững tầm quan trọng của môn học và nắm chắc kiến thức trọng tâm cần truyền thụ cho học sinh trong từng bài.  Lựa chọn và kết hợp phương pháp phù hợp để học sinh được luyện tập thực hành nhiều, tự chiếm lĩnh kiến thức.  Cần phải tính đến điều kiện cho phép như thời gian cho từng tiết học, điều kiện học sinh lớp mình để lựa chọn nội dung - phương pháp dạy học sao cho phù hợp.  Dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, tính vững chắc, tính vừa sức với từng đối tượng học sinh lớp mình.  Vận dụng hài hòa các phương pháp dạy học đến từng đối tượng học sinh giúp các em học xong bài nào nắm chắc ngay bài đó, thuộc công thức ngay tại lớp. Có như thế tiết học sau các em tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài sâu hơn, thực hành làm bài tập hiệu quả hơn.  Do không chấm điểm vào bài làm của học sinh, thay vào đó là nhận xét. Vì thế, trong quá trình kiểm tra bài làm của học sinh, tôi thường đến tận nơi, vừa kiểm tra kết hợp nhận xét bằng lời và sửa chữa cho các em ngay. Chính vì thế, các em tự rút được kinh nghiệm cho bản thân nên làm bài hiệu quả hơn.  Động viên khen thưởng các em kịp thời để các em có thêm hứng thú tích cực học tập, giúp các em tự tin, mạnh dạn phát biểu xây dựng bài.  Tôi luôn tạo môi trường học tập gần gũi thân thiện với các em hơn. Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong việc quản lý và giám sát việc học của các em.  Bản thân tôi không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn của mình, luôn cải tiến phương pháp dạy học cho phù hợp tình hình thực tế lớp. 2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài: 17 Với đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1D học tốt phép cộng và trừ trong phạm vi 10” Trên phương diện là tổ trưởng tôi đã chia sẻ với các bạn trong khối và các trường lân cận để cùng thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của môn Toán TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 1. 2. Hướng dẫn giảng dạy môn Toán của Sở Giáo dục và Đào tạo. 3. Sách giáo viên Toán 1 - Nhà xuất bản Giáo dục. 4. Tài liệu hướng dẫn ôn tập và thi tốt nghiệp Toán và phương pháp giảng dạy Toán – Đại học từ xa Huế. 5. Hỏi - Đáp về dạy học Toán 1 Nguyễn Áng (chủ biên), Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái Lai, Phạm Thanh Tâm, Nguyễn Văn Tuấn. 18 MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................Trang 1 1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................Trang 1 2. Mục đích nghiên cứu ..............................................................................Trang 1 3. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................Trang 1 4. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................Trang 1 5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................Trang 1 6. Giả thuyết khoa học ...............................................................................Trang 2 II. NỘI DUNG .............................................................................................Trang 3 1. Cơ sở lý luận. .........................................................................................Trang 3 1.1. Các văn bản chỉ đạo của Trung ương, địa phương, của ngành .......Trang 3 1.2. Các quan niệm khác về giáo dục .....................................................Trang 3 2. Cơ sở thực tiễn. ......................................................................................Trang 4 2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu ...........................................................Trang 4 2.2. Sự cần thiết của đề tài .....................................................................Trang 4 3. Nội dung vấn đề. ....................................................................................Trang 5 3.1. Vấn đề đặt ra. ..................................................................................Trang 5 3.2. Giải pháp giải quyết vấn đề .............................................................Trang 6 3.3. Phương pháp dạy Toán...................................................................Trang 10 4. Kết quả đề tài .......................................................................................Trang 15 5. Phạm vi áp dụng ...................................................................................Trang 15 III. KẾT LUẬN ..........................................................................................Trang 16 1. Bài học kinh nghiệm. ...........................................................................Trang 16 2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài.............................................................Trang 16 19 20