Cơ quan nào sau đây có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật | Albert Wilde

Luật hôn nhân gia đình quy định các vấn đề về hôn nhân gia đình như kết hôn, ly hôn, giành quyền nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, công nhận hoặc không công nhận là vợ chồng,…Trong đó có quy định về việc kết hôn trái pháp luật. Như vậy, như thế nào được xem là kết hôn trái pháp luật? Và nếu trường hợp phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì ai được quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật?

1.     Cơ sở pháp lí

-         Điều 8, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.     Kết hôn trái pháp luật là gì?

Kết hôn trái pháp luật là hình thức kết hôn không được pháp luật thừa nhận mặc dù trong chừng mực nào đó hành vi kết hôn này có tuân thủ pháp luật. Kết hôn trái pháp luật là kết hôn phạm vào các điều mà luật cấm.

Theo khoản 6 điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: "Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này".

Theo quy định trên, kết hôn trái pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật. Kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng ở thời điểm kết hôn một hoặc cả hai bên tham gia việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn do luật định (vi phạm về độ tuổi, vi phạm về sự tự nguyện, bị mất năng lực hành vi dân sự hay thuộc các trường hợp bị cấm..)

Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm các trường hợp cấm thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng đúng nghĩa. Nếu các bên nam, nữ quyết định kết hôn mà không tuân thủ các quy định của pháp luật thì hôn nhân sẽ không được cơ quan có thẩm quyền công nhận.

                                   

                                         Liên hệ luật sư hôn nhân gia đình 0915.27.05.27

3.     Ai là người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật?

Pháp luật Việt Nam quy định về các trường hợp được quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật tại  Điều 10 của luật này, cụ thể:  

“ Điều 10. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:

a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.”

Căn cứ theo quy định của Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình, những chủ thể sau đây có quyền yêu cầu tòa án hủy kết hôn trái pháp luật đó là :

+ Người bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn.

+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình.

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

Đối với  “người bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn” tại khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình, họ chính  là một bên trong quan hệ hôn nhân gia đình. Những người này được tiến hành việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật khi mà quan hệ hôn nhân vi phạm về nguyên tắc tự nguyện kết hôn, nguyên tắc này được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình, “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”.

Theo đó, các chủ thể  “vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật”, “Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình”, “Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em”, “Hội liên hiệp phụ nữ” tuy không phải là một bên trong quan hệ hôn nhân nhưng các chủ thể trên vẫn có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Họ có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật khi mà quan hệ hôn nhân đó vi phạm các nguyên tắc tại điểm a, c, d Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Mặt khác, nếu như quan hệ hôn nhân vi phạm nguyên tắc tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, các chủ thể này vẫn có quyền cầu hủy kết hôn trái pháp luật khi được chủ thể tại Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị hủy kết hôn trái pháp luật.

Thực chất, kết hôn, li hôn là quyền của công nhân. Tuy nhiên, việc quy định những cá nhân, tổ chức không phải là một bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật bởi vì trong trường hợp quan hệ hôn nhân đó trái pháp luật nhưng các bên trong quan hệ hôn nhân vẫn muốn tiếp tục quan hệ này, họ không có ý định chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chính vì thế, pháp luật phải quy định những chủ thể tại khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình (họ không phải là một bên trong quan hệ hôn nhân) mà vẫn có quyền yêu cầu việc hủy kết hôn trái pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu như chỉ quy định chỉ các chủ thể trong quan hệ hôn nhân được quyền yêu cầu việc kết hôn trái pháp luật thì sẽ không đảm bảo được mục đích điều chỉnh quan hệ pháp luật của Nhà nước.

Trên đây là chia sẻ của luật sư. Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn về hôn nhân gia đình, ly hôn, giành quyền nuôi con, tranh chấp tài sản khi/sau ly hôn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin sau:

CÔNG TY LUẬT NHÂN HÒA

Địa chỉ: số 2 Hiệp Bình, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, TpHCM

Hotline: 0915.27.05.27

Email:

Trân trọng!

Nhằm giải đáp thắc mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến quan hệ hôn nhân và quan hệ trong gia đình như tảo hôn, quyền và nghĩa vụ các bên, Luật Quang Huy bổ sung đường dây nóng tư vấn về vấn đề này. Nếu bạn đọc có thắc mắc liên quan đến luật hôn nhân và gia đình hãy liên hệ ngay cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.

Trên thực tế không ít trường hợp các cặp đôi nam nữ kết hôn và chung sống như vợ chồng với nhau khi chưa đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, dẫn tới việc có thể bị yêu cầu hủy hôn. Vậy khi phát hiện việc kết hôn trái quy định của pháp luật thì cơ quan nào sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc hủy hôn và cụ thể trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền là như thế nào trong việc hủy bỏ quan hệ hôn trái pháp luật. Luật Quang Huy xin gửi đến bạn bài viết để giúp bạn trả lời câu hỏi Cơ quan nào có thẩm quyền hủy kết hôn trái luật như sau:



      Kết hôn trái luật theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 được hiểu là:

Kết hôn trái pháp luật việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

      Những điều kiện nam, nữ được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 là về về độ tuổi, năng lực hành vi dân sự, kết hôn dựa trên tinh thần tự nguyện và không vi phạm các điều cấm của luật. Việc kết hôn khi vi phạm các điều kiện trên sẽ không được pháp luật công nhận và hậu quả pháp lý của nó là có thể bị hủy hôn.

      Về thẩm quyền hủy hôn, căn cứ theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong đó có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

      Đồng thời theo điểm g, khoản 2, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

      Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đăng ký kết hôn trái pháp luật sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc hủy hôn.

      Nếu là kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ thực hiện thủ tục hủy hôn tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Trừ trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng là khu vực sát biên giới Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về Tòa án cấp huyện. Ví dụ: Công dân Việt Nam kết hôn trái pháp luật với công dân Campuchia sinh sống tại khu vực xã giáp biên giới, thì khi có yêu cầu hủy hôn, thẩm quyền giải quyết vẫn là của Tòa án cấp huyện dù có yếu tố nước ngoài.

Cơ quan nào có thẩm quyền hủy kết hôn trái pháp luật

Cơ quan nào có thẩm quyền hủy kết hôn trái luật

      Kết hôn trái luật theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 được hiểu là:

Kết hôn trái pháp luật việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

      Những điều kiện nam, nữ được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 là về về độ tuổi, năng lực hành vi dân sự, kết hôn dựa trên tinh thần tự nguyện và không vi phạm các điều cấm của luật. Việc kết hôn khi vi phạm các điều kiện trên sẽ không được pháp luật công nhận và hậu quả pháp lý của nó là có thể bị hủy hôn.

      Về thẩm quyền hủy hôn, căn cứ theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong đó có: “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.”

      Đồng thời theo điểm g, khoản 2, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

      Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đăng ký kết hôn trái pháp luật sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc hủy hôn.

      Nếu là kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ thực hiện thủ tục hủy hôn tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Trừ trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng là khu vực sát biên giới Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về Tòa án cấp huyện. Ví dụ: Công dân Việt Nam kết hôn trái pháp luật với công dân Campuchia sinh sống tại khu vực xã giáp biên giới, thì khi có yêu cầu hủy hôn, thẩm quyền giải quyết vẫn là của Tòa án cấp huyện dù có yếu tố nước ngoài.

Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền hủy kết hôn trái luật

      Khi nhận được yêu cầu hủy hôn từ những đối tượng có  thẩm quyền yêu cầu hủy hôn thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét nguyện vọng và điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ, từ đó đưa ra quyết định cụ thể trong từng trường hợp như sau:

      Trường hợp thứ nhất: Tại thời điểm kết hôn hai bên nam, nữ không đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của luật hôn nhân gia đình nhưng hiện tại đã đủ.

  • Nếu hai bên nam, nữ cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân, thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm các bên có đủ điều kiện kết hôn.
  • Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, hoặc chỉ có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu, thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
  • Nếu hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn

      Trường hợp thứ hai: Vào thời điểm có yêu cầu hủy hôn, hai bên vẫn không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật.

  • Nếu có yêu cầu hủy việc hôn nhân trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;
  • Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật do họ vẫn chưa đủ điều kiện kết hôn.


  • Luật hôn nhân và Gia đình 2014
  • Bộ luật tố tụng dân sự 2015

      Trên đây là bài viết của Luật Quang Huy với vấn đề Cơ quan nào có thẩm quyền hủy kết hôn trái luật. Hy vọng bài viết có thể cung cấp đến bạn đọc đầy đủ các thông tin cần thiết về vấn đề này. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ tới Tổng đài Tư vấn kết hôn trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

      Trân trọng./.