Khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản là gì | Michael Kuba

Dân chủ tư sản là nền dân chủ chật hẹp, dân chủ của thiểu số, chỉ phục vụ lợi ích của một thiểu số nắm quyền lực về kinh tế và chính trị trong xã hội tư bản chủ nghĩa

Nền dân chủ tư sản so với nền dân chủ chủ nô, so với các chế độ xã hội đã có trước chủ nghĩa tư bản là một bước tiến rất dài. Sự ra đời của chế độ tư bản chủ nghĩa thắng phong kiến nhờ sự phát triển của lực lượng sản xuất, nó là một nền sản xuất lớn, hiện đại biểu hiện ở việc năng suất lao động cao. Vậy dân chủ tư sản là gì? Các đặc trưng cơ bản của nền dân chủ tư sản.

Sau đây, Chúng tôi sẽ giới thiệu tới quý vị những nội dung sau để hỗ trợ khách hàng những thông tin cần thiết liên quan đến dân chủ tư sản.

Dân chủ tư sản là nền dân chủ chật hẹp, dân chủ của thiểu số, chỉ phục vụ lợi ích của một thiểu số nắm quyền lực về kinh tế và chính trị trong xã hội tư bản chủ nghĩa, đó là nền dân chủ mà giai cấp tư sản nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất, với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, đồng thời nắm quyền lực trong thể chế nhà nước tư sản và chi phối xã hội ý thức, tư tưởng, lối sống, đạo đức với hệ tư tưởng tư sản, đó là chủ nghĩa tự do cá nhân tư sản.

Bản chất của nền dân chủ tư sản

Nền dân chủ tư sản xét về bản chất không phục vụ cho giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội. Pháp quyền tư sản thừa nhận trên nguyên tắc pháp lý những quyền của con người, nhưng trên thực tế việc thực hiện những quyền đó đối với quyền chúng nhân dân lao động thường bị hạn chế. Những thành quả dân chủ và tiến bộ xã hội đạt được chủ yếu phải thông qua cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động, của phong trào công nhân trong chủ nghĩa tư bản chứ không phải do giai cấp tư sản cầm quyền tự nguyện thực hiện.

Khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản là gì

Thể chế nhà nước trong nền dân chủ tư sản

Thể chế nhà nước tư sản tuy là một bước tiến lớn so với nhà nước chủ nô trong thời đại chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến trong chế độ chuyên chế trong xã hội thời kỳ trung cổ xong nhà nước đó vẫn dựa trên nền tảng kinh tế là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Sở hữu thuộc về giai cấp tư sản nên nhà nước ấy trước sau vẫn chỉ là công cụ nhằm bả vệ lợi ích và duy trì quyền lực của giai cấp tư sản.

Giai cấp tư sản là một nhóm nhỏ trong xã hội nó đối kháng và xung đột với lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích phổ biến của quyền chúng nhân dân lao động. Quyền lực nhân dân tức là quyền lực công cộng của xã hội ủy quyền vào nhà nước không thể không bị thao túng bởi giai cấp tư sản cầm quyền. Nó đã bị tha hóa chỉ còn mang tính hình thức mà căn nguyên sâu xa của nó là chế độ tư hữu dẫn tới sự tha hóa lao động, tha hóa bản chất con người.

Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ tư sản

Thứ nhất: Về chính trị

– Mang bản chất của giai cấp lãnh đạo xã hội, thống trị xã hội, đó chính là giia cấp tư sản.

– Thực hiện cơ chế: đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập nhưng đảng mà lãnh đạo, nắm trong tay quyền lực là đảng tư sản.

– Bản chất của nhà nước: nhà nước tư sản mang bản chất của giai cấp tư sản và nhà nước đó thực hiện cơ chế là tam quyền phân lập, đó là quyền lập pháp, hành pháp, quyền tư pháp độc lập với nhau, kìm chế lẫn nhau, kiểm soát lẫn nhau.

Thứ hai: Về kinh tế

– Dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu.

– Tổ chức quản lý nằm trong tay thiểu số (giai cấp tư sản), phân phối theo quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất, duy trì chế độ người bóc lột người.

– Tồn tại mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giữa gia cấp vô sản với giai cấp tư sản.

Thứ ba: Về tư tưởng, văn hóa, xã hội

– Lấy hệ tư tưởng của giai cấp tư sản làm chủ đạo, giữ vai trò chi phối trong mọi lĩnh vực của đời sống, ý thức xã hội.

– Giai cấp tư sản văn hóa tôn giáo như những công cụ, phương tiện để chi phối, lãnh đạo đời sống tinh thần của xã hội.

Trên đây, là toàn bộ nội dung liên quan đến dân chủ tư sản là gì? Các đặc trưng cơ bản của nền dân chủ tư sản. Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết trên, quý vị có thể liên hệ với chúng tôi để được giải đáp nhanh chóng nhất.

Published on Sep 25, 2020

"MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ Đ...

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiNhìn nhận, đánh giá vị trí và vai trò của khuynh hướng dân chủtư sản ở Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là mộtvấn đề rất quan trọng trong giai đoạn lịch sử cận đại Việt Nam.Mặc dù không đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùngnhưng cũng không thể phủ nhận vai trò tích cực của khuynh hướngdân chủ tư sản trong lịch sử nước ta. Nhờ có sự tồn tại khuynhhướng dân chủ tư sản mới chuẩn bị được tiền đề cho sự vận độngsang một khuynh hướng mới, khuynh hướng vô sản.Trong khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam, dân chủ đượcxác định là một trong hai nhiệm vụ của cách mạng. Trong công cuộcxây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Đảng ta đã kế thừa tưtưởng đó để làm mục tiêu, động lực cho sự công bằng, đoàn kết tạonên sức mạnh dân tộc và thành công cho công cuộc đổi mới.Các phong trào yêu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản thể hiệnlòng yêu nước mãnh liệt. Ngày nay, tình hình quốc tế ngày càngphức tạp, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá chế độ xã hộichủ nghĩa nước ta. Do đó, việc phát huy chủ nghĩa yêu nước hơn baogiờ hết càng giữ một vị trí quan trọng.Tìm hiểu khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta để thấy sựchuyển biến của con đường giải phóng dân tộc, thấy được sự hy sinh,đóng góp của các bậc tiền bối cho cách mạng Việt Nam. Từ đó giúpchúng ta thấy được giá trị của nền độc lập hôm nay, góp phần khơidậy tinh thần dân tộc, dân chủ trong việc giữ gìn và phát huy nhữngthành tựu mà ông cha đã dày công xây đắp.Nghiên cứu khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam từ cuốithế kỉ XIX đến trước năm 1930 còn giúp tôi nâng cao năng lựcnghiên cứu khoa học, có thêm nhiều kiến thức phục vụ công tác1giảng dạy, đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho đồng nghiệpsau này.Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn vấn đề“Khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đếntrước năm 1930” làm đề tài khóa luận của mình.2. Lịch sử vấn đềKhuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XIXđến trước năm 1930 được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu ởcác góc độ, khía cạnh khác nhau.- Quyển “Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cáchmạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỉXX” của tác giả Đinh Trần Dương, do Nhà xuất bản Đại học Quốcgia Hà Nội xuất bản năm 2002.- Giáo sư Trần Văn Giàu viết về ý thức tư sản, các biểu hiện vàsự chuyển biến của nó qua quyển “Sự phát triển của tư tưởng ở ViệtNam từ thế kỉ XIX đến cách mạng Tháng Tám”, tập II-Hệ ý thức tưsản và sự bất lực của nó trong các nhiệm vụ lịch sử.- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản quyển “Bước chuyểntư tưởng Việt Nam cuối thế kỉ XIX-đầu XX” vào năm 2005, do PhóGiáo sư-Tiến sĩ Trương Văn Chung và Phó Giáo sư-Tiến sĩ DoãnChính đồng chủ biên.- Quyển “Lịch sử cận-hiện đại Việt Nam một số vấn đề nghiêncứu” của Giáo sư Đinh Xuân Lâm do Nhà xuất bản Thế giới xuấtbản năm 1998.- Tác giả Nguyễn Khánh Toàn với quyển “Lịch sử Việt Nam, tậpII (1858-1945)”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2004.- Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Lịch sử Việt nam từ 1858-1918, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, xuất bản năm 2005.Tóm lại, những công trình trên phần nào khái quát, đề cập đếnkhuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX đến trước2năm 1930. Ở đề tài luận văn này, tôi tổng hợp và đi cụ thể từ sự ảnhhưởng đến hình thành và tổ chức hoạt động của các phong trào dânchủ tư sản để làm rõ sự phát triển của khuynh hướng này ở Việt Namvà sự đóng góp của nó trong cách mạng giải phóng dân tộc.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu là khuynh hướng dân chủ tư sản ở ViệtNam.Phạm vi nghiên cứu là các phong trào yêu nước theo khuynhhướng dân chủ tư sản ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX đến trước năm1930.4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứuTìm hiểu cơ sở hình thành và đi sâu phân tích hoạt động của cácphong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Qua đó thấyđược sự đóng góp của khuynh hướng này trong cuộc vận động giảiphóng dân tộc Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.5. Phương pháp nghiên cứuĐề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:- Phương pháp lịch sử- Phương pháp logic- Phương pháp sưu tầm, xử lí tài liệu, so sánh, phân tích, tổng hợp…6. Đóng góp của đề tàiGiúp chúng ta nhìn nhận khách quan về sự tồn tại của khuynhhướng dân chủ tư sản ở Việt Nam. Đồng thời khẳng định vị trí và vaitrò của khuynh hướng này đối với cách mạng giải phóng dân tộc.Đề tài nghiên cứu thành công còn góp phần bổ sung kiến thứcphục vụ cho công tác giảng dạy sau này và làm tài liệu tham khảocho đồng nghiệp và những người quan tâm tìm hiểu.7. Giả thiết khoa họcTìm hiểu khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta để thấy sựchuyển biến của phong trào giải phóng dân tộc, sự hy sinh, đóng góp3của các bậc tiền bối trong quá trình tìm giải pháp cứu nước. Từ đókhẳng định giá trị của nền độc lập ngày nay, góp phần thức tỉnh ýthức dân tộc, dân chủ trong việc giữ gìn độc lập, xây dựng và pháttriển đất nước.8. Cấu trúc của đề tàiNgoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụlục, luận văn gồm hai chương:Chương 1: Quá trình hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ởViệt NamChương 2: Những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dânchủ tư sản ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1930.4Chương 1QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN Ở VIỆT NAM1.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX1.1.1. Tác động của hoàn cảnh quốc tế đến Việt NamCuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thế giới có nhiều biến cố tácđộng đến cách mạng Việt Nam. Đặc biệt là Duy Tân Minh Trị ởNhật Bản (1868), cuộc vận động biến pháp ở Trung Quốc dẫn đếncách mạng Tân Hợi (1911) và phong trào “châu Á thức tỉnh”.Trước năm 1868, Nhật cũng là nước phong kiến “khép kín” nhưViệt Nam. Bị các nước phương Tây đòi mở cửa. Nhật Bản sớmthức thời, kịp thời cải cách và phát triển theo hướng tư bản chủnghĩa. Nhờ đó, Nhật giữ được độc lập và sớm cường thịnh. Nhật trởthành “điểm sáng”, tác động lớn đến các nước châu Á lúc bấy giờ.Còn Trung Quốc, từ sau thất bại trong cuộc chiến tranh với Nhật(1895), triều đình giảm sút uy thế, phong trào đấu tranh của nhândân lên cao. Giữa lúc đó, nhiều sĩ phu tiến bộ và trí thức tư sản đãmạnh dạn đòi cải cách. Những tư tưởng tiến bộ đó đã ảnh hưởngsâu rộng vào nhân dân, nhanh chóng phát động phong trào chốngphong kiến và đế quốc. Cuộc đấu tranh dần phát triển lên cao dẫnđến cuộc cách mạng Tân Hợi (1911). Những biến cố về chính trị, tưtưởng đó nhanh chóng dội vào Việt Nam, nhất là qua Tân thư, Tânvăn làm cách mạng Việt Nam có nhiều chuyển biến rõ nét.Trên thế giới còn có một sự kiện nữa tác động đến cách mạngViệt Nam, đó là cao trào “Châu Á thức tỉnh”. Nhiều phong tràocách mạng giải phóng dân tộc ở các nước châu Á nổ ra mạnh mẽ.Tất cả những sự kiện trên góp phần cổ vũ, nâng cao chí quyếttâm trong quá trình chống xâm lược ở nước ta.1.1.2. Tình hình trong nước5Các chương trình khai thác thuộc địa của Pháp làm cho tìnhhình Việt Nam có nhiều biến đổi.Về chính trị: Pháp thiết lập một chế độ chuyên chính điển hìnhvới mọi quyền hành đều do Pháp nắm, triều Nguyễn chỉ là bù nhìn.Chúng tiến hành chính sách “chia để trị” thâm độc nhằm chia rẽdân tộc Việt Nam, chia rẽ các dân tộc Đông Dương và nhằm xóa bỏtên nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới. Ngoài ra,chúng còn tổ chức quân đội thuộc địa, lực lượng cảnh sát, hệ thốngpháp luật khắc nghiệt nhằm đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhândân, ổn định thuộc địa và đặc biệt phục vụ cho mục đích khai thác.Về kinh tế: Pháp đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam,nhất là về giao thông vận tải cũng không ngoài mục đích thống trịvà bóc lột. Pháp chủ trương phát triển công nghiệp nhưng chỉ chútrọng một số ngành công nghiệp phục vụ cho vơ vét tài nguyên,khoáng sản của Việt Nam. Do đó, công nghiệp Việt Nam phát triểnquè cụt, phiến diện. Trong nông nghiệp, Pháp cướp đoạt ruộng đấtcủa nhân dân lập đồn điền và duy trì các hình thức bóc lột tô thuếnặng nề. Nhìn chung, chính sách kinh tế của Pháp ở Việt Nam làmcho nền kinh tế Việt Nam mất cân đối, phụ thuộc vào kinh tế Phápvà mang nặng tính chất nửa phong kiến nửa thực dân.Về xã hội: Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa củaPháp, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi. Bên cạnh những giai cấpcũ (địa chủ, nông dân) đang phân hóa thì xuất hiện thêm các giaitầng mới (công nhân, tư sản). Tầng lớp trí thức tiểu tư sản tăng lênđáng kể. Sự tồn tại của những lực lượng xã hội khác nhau ít nhiềuđều có mâu thuẫn với chính quyền thống trị là điều kiện bên trongcho cuộc vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng mới.Về văn hóa giáo dục: Thực dân Pháp thi hành chính sách ngudân triệt để. Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và bệnhviện. Pháp mở trường dạy tiếng Pháp nhằm đào tạo đội ngũ tay sai.6Chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiến bộ trên thế giới,truyền bá văn hoá đồi trị vào Việt Nam.Tóm lại, những chính sách cai trị của Pháp ở Việt Nam mangđậm tính chất thực dân: chuyên chính về chính trị, bóc lột nặng nềvề kinh tế, nô dịch tàn bạo về văn hoá giáo dục. Những biến đổi đólà cơ sở cho sự tiếp nhận, hấp thụ những luồng tư tưởng mới vàoViệt Nam khi hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời.1.2. Sự du nhập của khuynh hướng tư sản vào Việt Nam1.2.1. Nguồn gốc của tư tưởng dân chủ tư sảnSự xuất hiện của tư tưởng dân chủ tư sản: Tư tưởng dân chủtư sản xuất hiện trước mỗi cuộc cách mạng tư sản. Nó là tiền đề tưtưởng cùng với tiền đề kinh tế, chính trị-xã hội chuẩn bị cho cáccuộc cách mạng tư sản bùng nổ. Ở Anh, hệ tư tưởng dân chủ tư sảnthể hiện qua cuộc đấu tranh của Thanh giáo chống Anh giáo. ỞPháp có trào lưu tư tưởng “ánh sáng” chống chế độ phong kiến,giáo hội với những đại biểu xuất sắc: Mông-xtec-ki-ơ , Rut-xô ,Vôn-te Ở Nhật thì có trào lưu “Hà Lan học”, đề xướng tư tưởng“trọng thương” xuất hiện trước Duy Tân Minh Trị…Giá trị của các tư tưởng dân chủ tư sản: Tư tưởng dân chủxuất hiện công khai chống lại chế độ phong kiến, giáo hội, và đềxướng những mô hình xã hội mới, tiến bộ. Điều đó thể hiện đúngnguyện vọng của người dân. Do đó, nó có tác dụng khơi dậy tinhthần đấu tranh của nhân dân. Và như vậy, tư tưởng dân chủ có tácdụng mở đường cho các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ.Cách mạng tư sản sau thắng lợi, tư tưởng dân chủ được khẳngđịnh (qua các bản Tuyên ngôn, Hiến pháp) và thể chế dân chủ đượcthành lập với mô hình nhà nước Tam quyền phân lập tiến bộ hơncác thể chế trước đó. Đây là một bước ngoặt vĩ đại trong sự pháttriển của lịch sử xã hội loài người.7Tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời cũng trên cơ sở tiếpthu những giá trị tiến bộ ấy khi đã lọc bỏ những hạn chế để đi đến tựdo dân chủ triệt để hơn. Với ý nghĩa như thế, tư tưởng dân chủ tư sản được đánh giá làmang giá trị quốc tế sâu rộng.Hạn chế của tư tưởng dân chủ tư sản: Tư tưởng là dân chủ tưsản, đề cao vấn đề dân chủ nhưng dân chủ chỉ dành cho tư sản, cònđa số nhân dân lao động vẫn bị áp bức bóc lột, bị hạn chế trong việchưởng tự do dân chủ cũng như không được tham gia bàn bạc côngviệc chung. Giai cấp tư sản trong xã hội mới được hưởng nhiềuquyền lợi kinh tế lẫn chính trị, cơ bản đối lập với nhân dân. Sựchênh lệch giàu-nghèo là nguồn gốc tất nhiên. Suy cho cùng, dânchủ tư sản là quyền dân chủ giữa những con người tư sản với nhau.Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng tư tưởng dân chủ tư sảntính đến lúc trước cách mạng Tháng Mười Nga thì nó rất tiến bộ.Do đó, khi tư tưởng này du nhập vào Việt Nam đang lúc xã hộiViệt Nam khủng hoảng về con đường cứu nước thì nó được tiếpnhận một cách nhanh chóng, làm chuyển biến tư tưởng cách mạngViệt Nam.1.2.2. Các con đường du nhập vào Việt Nam Tư tưởng dân chủ tư sản vào Việt Nam thông qua Pháp, NhậtBản và Trung Quốc là chủ yếu.Trong quá trình xâm lược, ngoài bộ phận những người trongchính quyền thực dân, còn có những trí thức, nhà khoa học hay giáosĩ đến Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau. Các giáo sĩ truyềnbá đạo Thiên Chúa ít nhiều cũng đã mang tư tưởng bình đẳng củaChúa truyền bá vào nhân dân Việt Nam. Ngoài ý muốn chủ quancủa Pháp, nền giáo dục Pháp ở Việt Nam đã không thể tránh khỏimang đến cho người học những tư tưởng tiến bộ của Mông-te-xki-ơ, Rut-xô, Vôn-te,… Tư tưởng dân chủ tư sản ở Pháp vào Việt8Nam còn thông qua những người Việt Nam xuất ngoại sang Pháp,nhiều nhất là những người Việt làm việc cho Pháp hoặc bị đưa sangPháp tham chiến. Đây là con đường tiếp cận tư tưởng dân chủ tưsản phương Tây trực tiếp chính bằng trình độ nhận thức của ngườiViệt.Con đường thứ hai truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản tới ViệtNam là từ Nhật Bản. Thành công của Nhật về cải cách và côngnghiệp hóa sau Minh Trị Duy Tân, rồi chiến thắng trong chiến tranhNga-Nhật (1904-1905) đã cổ vũ các dân tộc phương Đông về khảnăng khắc phục tình trạng lạc hậu và phục hưng của mỗi nước. Nhậtđã trở thành tấm gương các nước châu Á, trong đó có Việt Nam.Tư tưởng dân chủ tư sản vào Việt Nam không thể không kể đếnTân thư, Tân văn từ Trung Quốc. Đối với nước ta, Trung Quốckhông chỉ cùng cảnh ngộ: là một nước phong kiến bị thực dân xâmlược mà còn là nước đồng chủng, đồng văn, và đặc biệt là cùng sửdụng Hán tự. Trung Quốc là nước láng giềng với Việt Nam nênthường xuyên có sự tiếp xúc qua lại giữa những nhà cách mạng vớinhau. Do đó, cách mạng Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đến cáchmạng Việt Nam.Tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Việt Nam thông quaNhật Bản và Trung Quốc khác với Pháp vì đã có sự biến dạng nhấtđịnh. Đó là cách vận dụng, cách nhìn của phần lớn những nhà theotư tưởng quân chủ lập hiến.1.3. Cơ sở hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam1.3.1. Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởngphong kiếnSau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), nhân dân ta vẫn tiếp tục đấutranh chống Pháp quyết liệt. Tiêu biểu là cuộc nổi dậy của phái chủchiến ở kinh thành Huế (1884), phong trào yêu nước của văn thân,9sĩ phu hưởng ứng Chiếu Cần Vương (1885-1896) và phong tràonông dân tự phát, nổi bật là khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Các phong trào trên đều thất bại. Nguyên nhân chủ yếu do hệ tưtưởng phong kiến bấy giờ đã lạc hậu, không thể lãnh đạo cáchmạng Việt Nam trong tình tình mới. Yêu cầu lịch sử đặt ra là mauchóng tìm ra một tư tưởng mới chỉ đạo con đường cứu nước ViệtNam.1.3.2. Những chuyển biến kinh tế-xã hội Việt Nam sau sau cuộckhai thác thuộc địa lần thứ nhất của PhápDưới chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dânPháp, kinh tế-xã hội Việt Nam có sự chuyển biến sâu sắc.Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế Pháp.Quan hệ sản xuất phong kiến vẫn được duy trì, kết hợp với quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhập vào. Do đó, nền kinh tế ViệtNam đầu thế kỉ XX mang tính chất nửa thực dân nửa phong kiến.Nền kinh tế vì thế ngày càng kiệt quệ, đời sống nhân dân bần cùng.Bên cạnh chính sách bóc lột về kinh tế là chính sách áp bức về chínhtrị của chính quyền thống trị. Được sống độc lập, tự do là nguyệnvọng của mọi người. Mặt khác, trong xã hội Việt Nam bấy giờ, tầnglớp văn thân, sĩ phu yêu nước tiến bộ đang trên con đường tư sảnhoá. Họ phần nào nắm bắt được nguyện vọng của quần chúng, đứngra đảm nhiệm vai trò lãnh đạo. Đó là cơ sở cho sự chuyển biến củacách mạng Việt Nam từ phạm trù tư tưởng phong kiến sang tư sản.10Chương 2NHỮNG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC THEOKHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN Ở VIỆT NAM TỪCUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN TRƯỚC NĂM 19302.1. Phong trào kháng chiến trước chiến tranh thế giới thứ nhất2.1.1. Điều kiện ra đời của phong tràoTư sản Việt Nam trở thành một giai cấp sau cuộc khai thác thuộcđịa lần thứ nhất của Pháp (1897-1914). Do đó, giai cấp làm tiền đềquan trọng cho sự tiếp thu hệ tư tưởng tư sản vào Việt Nam trướcchiến tranh thế giới thứ nhất chưa có. Nhưng điều đó cũng khôngquyết định sự chuyển biến tư tưởng trong cách mạng Việt Nam. Xãhội Việt Nam bấy giờ đã có một lớp người thay thế, đó là những vănthân, sĩ phu đang trên con đường tư sản hóa.Mặt khác, quá trình cai trị của Pháp làm thay đổi hẳn bộ mặtkinh tế-xã hội Việt Nam. Nhiều thành thị ra đời cùng với bộ phận thịdân. Thị dân là lớp người có tư tưởng nhạy bén với thông tin, tri thứcmới. Do đó, họ là nơi du nhập đầu tiên các luồng tư tưởng tiến bộ nóichung, trong đó có tư tưởng dân chủ tư sản. Thị dân là lực lượngquan trọng cho khuynh hướng đấu tranh mới và là thành phần có thểgiác ngộ đông đảo quần chúng trong buổi giao thời. Tuy nhiên, thị dân đa phần tư tưởng còn phân tán, chưa qua trảinghiệm đấu tranh nên họ chưa thể đóng vai trò lãnh đạo. Mà lãnhđạo bấy giờ là các sĩ phu Nho học đang trong quá trình tư sản hóa.Những điều kiện nói trên, đặc biệt về giai cấp lãnh đạo sẽ quyếtđịnh rất nhiều tới đặc điểm của khuynh hướng chính trị-tư tưởng dânchủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.2.1.2. Các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tưsản trước chiến tranh thế giới thứ nhất 2.1.2.1. Phong trào Đông Du11Tháng 1 năm 1905, một số sĩ phu Việt Nam do Phan Bội Châuđứng đầu sang Nhật mở đầu cho phong trào Đông Du.Phong trào Đông Du phát triển ngày càng rầm rộ trên cả ba miềnđất nước. Pháp nhận thấy sự phát triển của phong trào Đông Du ngàycàng gây bất lợi cho chúng nên câu kết với Nhật trục xuất du họcsinh Việt Nam ra khỏi Nhật vào năm 1908.Có thể khẳng định, xuất dương cầu học là một quyết địnhmang tính đột phá, thay đổi hướng đi và phương pháp cách mạngViệt Nam. Phong trào đã đào tạo được một số cán bộ cách mạngcung cấp cho phong trào yêu nước ở Việt Nam trong thế kỉ XX. Hoạtđộng của phong trào Đông Du có tác dụng mở đường cho nhữngngười có tư tưởng chấn hưng đất nước sau này. Đồng thời, Đông Ducòn chỉ ra rằng không thể trông chờ vào đế quốc để chống đế quốc,mà phải biết tự “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Dù chọn conđường bạo động vũ trang để giành độc lập dân tộc, những nhà cáchmạng Đông Du đã không coi nhẹ việc nâng cao dân trí và thức tỉnhđồng bào. Những bài học lịch sử của phong trào Đông Du để lại rấtcó ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam. 2.1.2.2. Phong trào Duy TânPhong trào Duy Tân với đại diện tiêu biểu là Phan Châu Trinh.Phan Châu Trinh chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ”, chưa đặt việckhôi phục chủ quyền quốc gia thành nhiệm vụ trước mắt, chỉ đềxướng tư tưởng dân chủ tư sản với yêu cầu: “khai dân trí, chấn dânkhí, hậu dân sinh”. Phan Châu Trinh còn phản đối việc dùng vũ lựcđể giành lại độc lập cũng như cầu viện bên ngoài. Nội dung hoạtđộng của phong trào là mở mang trường học, phát triển công thương,cải cách phong tục lạc hậu,… Phong trào được nhiều sĩ phu yêunước hưởng ứng, phát triển nhanh chóng rộng khắp cả nước trên hầuhết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…12Pháp lo sợ nên tiến hành đàn áp dữ dội. Phong trào Duy Tân chỉtồn tại được hai năm (1906-1908). Thất bại của phong trào Duy Tâncũng là sự thất bại chung của xu hướng cải cách đầu thế kỉ XX.Nguyên nhân thất bại lớn nhất là tách rời biện pháp bạo động cứunước. Mà tách rời bạo động là Phan Châu Trinh đã tự tách mình rakhỏi sức mạnh truyền thống của ông cha trong đấu tranh chống xâmlược. Nguyên nhân thứ hai là do hạn chế nhãn quan chính trị, quá ảotưởng khi chủ trương dựa vào đế quốc dẫn đến sai lầm nghiêm trọnglà làm chệch mục tiêu đấu tranh của quần chúng lúc này… Mặc dù chủ trương cứu nước của Phan Châu Trinh còn nhiềuhạn chế về mặt lịch sử, nhưng ông vẫn là người có tư tưởng dân chủsớm nhất ở Việt Nam. Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước nhiệtthành, đã có những đóng góp tích cực vào việc khơi dậy tư tưởngdân chủ, mở ra cách nhìn mới về vấn đề dân tộc, dân chủ ở Việt Namtrong những năm đầu thế kỉ XX. 2.1.2.3. Phong trào Đông Kinh nghĩa thụcTháng 3 năm 1907, một nhóm sĩ phu đứng đầu là Lương VănCan, Nguyễn Quyền đứng ra thành lập Đông Kinh nghĩa thục ở HàNội. Đây là một tổ chức cách mạng vận động văn hóa mang tính chấtdân tộc, dân chủ. Nội dung hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục rấtphong phú trên các lĩnh vực văn hóa-giáo dục, tư tưởng, xã hội, kinhtế. Phong trào văn hóa của Đông Kinh nghĩa thục ngày càng pháttriển mạnh. Pháp nhận thấy Đông Kinh nghĩa thục ngày càng trởthành nguy cơ lớn đối với chúng, cuối năm 1907, thực dân Pháp bắtđầu bắt đóng cửa trường. Nhìn chung, Đông Kinh nghĩa thục dù thất bại nhưng có tácdụng không nhỏ đối với cách mạng Việt Nam. Nó góp phần chuẩn bịvề mặt tinh thần cho các phong trào đấu tranh rộng lớn sau đó, gópphần tích cực vào việc phát triển ngôn ngữ và văn tự, văn hóa dântộc. Đông Kinh nghĩa thục với những hoạt động tuyên truyền chấn13hưng thực nghiệp và kinh doanh của mình đã góp phần thúc đẩy nềnkinh tế tư sản dân tộc phát triển trong quá trình hình thành thiếu cơsở. Những hoạt động phong phú của Đông kinh nghĩa thục là bài họckinh nghiệm có giá trị cho các phong trào yêu nước giai đoạn saunày. 2.1.2.4. Phong trào Việt Nam Quang phục HộiCách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc giành thắng lợi (1911) có tácđộng đến tư tưởng của những nhà lãnh đạo Duy Tân hội. Tháng 5năm 1912, tại Quảng Đông (Trung Quốc), Việt Nam Quang phục hộiđược thành lập thay thế Duy Tân hội. Mục đích của Hội là đánh đuổithực dân Pháp và thủ tiêu chế độ quân chủ phong kiến, xây dựngchính thể dân chủ. Phương pháp cách mạng vẫn là bạo động vũ trangđể giành chính quyền. Điểm khác của tổ chức mới này so với DuyTân hội là sự thức thời và phần nào có sự chuyển biến tư tưởng cáchmạng của hội viên trong điều kiện mới. Trước nhiều cuộc bạo động của tổ chức Việt Nam Quang phụchội, thực dân Pháp tiến hành khủng bố dã man. Các phong trào đềulần lượt thất bại và chấm dứt từ sau năm 1917.Nguyên nhân thất bại là do phong trào quần chúng và cơ sở cáchmạng trong nước gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, do thiếu tự tin vàosức lực của mình, ít hay vẫn còn tư tưởng dựa vào bên ngoài, nênngay từ đầu hoạt động của Hội mang tính phiêu lưu, chưa có sựchuẩn bị đầy đủ. Do đó, các phong trào dễ dàng bị Pháp đàn áp.Dù thất bại, nhưng các hoạt động của Việt Nam Quang phục hộiđã phát động mạnh mẽ tinh thần yêu nước, giải phóng dân tộc củanhân dân ta. Lần đầu tiên vấn đề chủ trương thành lập chế độ dânchủ cộng hòa được nêu lên trong cương lĩnh của một tổ chức cáchmạng. Nó đánh dấu bước tiến về tư tưởng-chính trị của những ngườilãnh đạo cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ trên con đường đấu tranh14mới. Đó là những cống hiến lớn lao của Phan Bội Châu và Việt NamQuang phục hội vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam. 2.1.3. Đặc điểm của các phong tràoĐây là thời kỳ quá độ từ phạm trù phong kiến sang phạm trù tưsản nên phong trào diễn ra phức tạp. Có nhiều xu hướng đấu tranhtồn tại và phát triển, điển hình là bạo động và cải cách. Phươnghướng đấu tranh là xóa bỏ nhà nước phong kiến chuyên chế, xâydựng một nhà nước tiến bộ hơn. Động lực được mở rộng, không chỉcó nông dân mà có cả những lực lượng xã hội mới tham gia. Vai tròlãnh đạo thuộc về một số sĩ phu Nho học đang trên con đường tư sảnhóa. Các phong trào có sự kết hợp nhiều hình thức khác nhau nhưlập các hội yêu nước, mở trường học, ra sách báo phổ biến kiến thứcmới, diễn thuyết, bình văn,… Đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hóa với quân sự; kết hợp phương pháp hòa bình, bạolực, công khai hợp pháp, bất hợp pháp Quy mô các phong tràorộng khắp toàn quốc, mặc dù mới là bề rộng, chưa đi vào chiều sâu.Tuy nhiên, tất cả các phong trào đấu tranh trước chiến tranh thếgiới thứ nhất đều thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một giaicấp lãnh đạo năng lực, thiếu một đường lối chính trị đúng đắn và mộtphương pháp cách mạng khoa học, không có cơ sở rộng rãi trongquần chúng. Thế nhưng cũng cần phải khẳng định rằng: chínhkhuynh hướng dân chủ tư sản đã làm cho công cuộc vận động giảiphóng dân tộc ở Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực. 2.2. Phong trào cách mạng sau chiến tranh thế giới thứ nhất 2.2.1. Điều kiện ra đời và phát triển của các phong trào 2.2.1.1. Bối cảnh thế giới sau chiến tranh thế giới thứ nhấtSau chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước đế quốc bị thiệt hạinặng nề. Do đó, chúng đẩy mạng quá trình khai thác thuộc địa.Trên thế giới lúc bấy giờ có một sự kiện quan trọng, đó là cáchmạng Tháng Mười Nga thành công (1917). Sự kiện đó có ý nghĩa15mở ra con đường giải phóng dân tộc ở phương Đông và thúc đẩyphong trào công nhân các nước tư bản phương Tây phát triển mạnh. Tiếp sau cách mạng Tháng Mười Nga là sự ra đời Quốc tế thứIII (3/1919) và sự ra đời của hàng loạt các Đảng cộng sản. Đáng chúý là sự ra đời của Đảng cộng sản Pháp (1920) và Đảng cộng sảnTrung Quốc (1921). Tất cả góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cáchmạng Việt Nam “đứng chân”, gây dựng phong trào trong nước.Thời kì này, bên cạnh chủ nghĩa Mác-Lênin bắt đầu truyền bávào Việt Nam cùng với con đường cứu nước theo khuynh hướng vôsản, thì những tư tưởng dân chủ tư sản du nhập từ trước đó tiếp tụcphát triển làm cho nội dung cách mạng Việt Nam thêm phong phú.Tình hình thế giới như trên ảnh hưởng nhiều tới bước phát triểnvà đặc điểm của các phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam giaiđoạn 1919-1930 . 2.2.1.2. Tình hình trong nước sau chiến tranh thế giới thứ nhấtVề chính trị, thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới tăng cườngđàn áp cách mạng Việt Nam. Các quyền tự do, dân chủ của nhân dânta bị bóp nghẹt nhưng lại được che đậy dưới những chính sách mịdân như: “cải lương hương chính”, “cải cách hành chính”.Về kinh tế, Pháp đẩy mạnh chương trình khai thác thuộc địa lầnthứ hai với số vốn lớn hơn rất nhiều so với lần trước (1897-1914).Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chuyển biến sâu sắc, càng mang đậmtính chất thực dân phong kiến. Về xã hội, cũng tiếp tục phân hóa phức tạp các giai tầng với tháiđộ chính trị, khả năng cách mạng khác nhau và ngày càng trưởngthành về ý thức và lớn mạnh về số lượng. Nhưng họ ít nhiều đềumâu thuẫn với chính quyền thống trị. Điều đó quy định tính quầnchúng của các phong trào yêu nước giai đoạn này. Tóm lại, tình hình thế giới và trong nước như thế đã tạo ra nhữngđiều kiện hình thành cũng như phát triển đồng thời quy định đặc16điểm của phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủtứ sản ở Việt Nam giai đoạn 1919-1930.2.2.2. Nội dung của các phong trào yêu nước dân chủ sau chiếntranh thế giới thứ nhất đến trước năm 1930 2.2.2.1. Phong trào ở nước ngoài - Những hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở TrungQuốc: tiêu biểu nhất là hoạt động tuyên truyền chủ nghĩa yêu nướctrong người Việt của Phan Bội Châu; và hoạt động của Tâm TâmXã-tổ chức do một số thanh niên yêu nước Việt Nam thành lập năm1923 ở Quảng Châu.- Những hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Pháp: đángchú ý nhất là những hoạt động yêu nước của Phan Châu Trinh. Tạiđây, ông tham gia thành lập Hội đồng bào thân ái tại Pháp (1912),Hội những người Việt Nam yêu nước (1915). Đáng kể nhất là việcông viết Thất điều thư làm rầm rộ thêm phong trào kiều bào Việt chếgiễu vua Khải Định sang Pháp dự “Hội triển lãm thuộc địa” (1922).Những hoạt động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ởnước ngoài nói trên là một bộ phận khá quan trọng thúc đẩy tiếntrình đấu tranh của cách mạng Việt Nam. 2.2.2.2. Phong trào đấu tranh trong nước- Phong trào đấu tranh của tư sản dân tộc: phong trào đấu tranhcủa ngày càng phát triển với tính chất cao hơn. Ban đầu họ gây raphong trào tẩy chay tư sản Hoa kiều (1919), phong trào đấu tranhchống độc quyền cảng Sài Gòn (1923) để chống lại tư sản nướcngoài đòi chủ yếu quyền lợi kinh tế. Tiến hơn một bước là việc thànhlập Đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu (1923), đòi tự do dân chủ.Rồi đến Việt Nam Quốc Dân Đảng-chính đảng của tư sản dân tộc. - Phong trào đấu tranh của tầng lớp tiểu tư sản trí thức: pháttriển mạnh vào những năm hai mươi của thế kỉ XX, đáng kể là sự rađời Hội Phục Việt (1925); những hoạt động dân chủ công khai đấu17tranh đòi Pháp thả Phan Bội Châu (1925) và đám tang Phan ChâuTrinh (1926) và đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh (1925),… Tríthức tiểu tư sản còn thông qua báo chí đòi các quyền tự do dân chủ,chống lại chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề. Những hoạt động nói trên đã trở thành một động lực quan trọngcổ vũ phong trào đòi tự do dân chủ ở Việt Nam vào những năm haimươi của thế kỉ XX, song nó không thể đưa cuộc đấu tranh đếnthắng lợi do đường lối chính trị chưa đúng đắn.2.2.3. Đặc điểm của các phong trào dân chủ sau chiến tranh thếgiới thứ nhất đến trước năm 1930Đặc điểm nổi bật nhất trong các phong trào dân chủ thời kì nàylà sự thay thế vai trò lãnh đạo từ những sĩ phu Hán học bằng trí thứcTây học. Đặc biệt lúc này có sự ra đời các chính đảng tư sản như:Đảng Lập hiến, Đảng Thanh niên cao vọng, Việt Nam Quốc dânĐảng, song đường lối tiếp tục có những xu hướng khác nhau.Phong trào của tầng lớp tiểu tư sản trí thức thời kì này phát triểnrất sôi nổi. Các tổ chức chính trị cũng ra đời như Tâm Tâm Xã, TânViệt cách mạng Đảng. Trong quá trình hoạt động của mình, chịu tácđộng mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin với con đường cứu nước theokhuynh hướng vô sản, và đặc biệt là từ sau Hội Việt Nam cách mạngthanh niên ra đời (1925), các tổ chức này dần phân hóa rồi chuyểnsang tư tưởng mới, tư tưởng vô sản. Điều đó thể hiện bước chuyểnmới của phong trào cách mạng Việt Nam. Phong trào trí thức tiểu tưsản có sức lôi kéo đông đảo quần chúng tham gia, phát động nhanhchóng nhiều phong trào đấu tranh lan rộng cả nước. Tuy nhiên, cácphong trào dân chủ giai đoạn này cũng đều thất bại.2.3. Nguyên nhân thất bại của các phong trào theo khuynhhướng dân chủ tư sản Về khách quan18Tư tưởng dân chủ tư sản đã mất đi tính thời đại của mình kể từkhi cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917). Mặt khác, thựcdân Pháp còn đủ mạnh để đàn áp những cuộc đấu tranh vừa yếu vềlực lượng, vừa non kém về tổ chức như những phong trào theokhuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta.Về chủ quanThứ nhất là hạn chế về tư tưởng, lập trường giai cấp của nhữngngười tiếp thu, truyền bá luồng tư tưởng dân chủ tư sản vào nước ta.Hơn nữa, sự tiếp thu tư tưởng tư sản đã bị biến dạng dưới cái nhìncủa những người theo tư tưởng quân chủ lập hiến qua Tân thư, Tânvăn từ Trung Quốc, Nhật Bản.Vì thế, tư tưởng dân chủ tư sản đượctruyền bá lúc này chưa sâu sắc và thiếu hệ thống. Thứ hai là do nền tảng kinh tế-xã hội của Việt Nam bấy giờ chohệ tư tưởng tư sản là không vững chắc. Một mặt, nền kinh tế ViệtNam đầu thế kỉ XX là nửa tư bản, nửa phong kiến; mặt khác, giaicấp tư sản thì số lượng không nhiều mà thực lực yếu kém, tiểu tưsản thì tư tưởng thường dao động,…Thứ ba là do thiếu hẳn một lực lượng cách mạng đông đảo và cótính cố kết; thiếu một chính đảng có tổ chức chặt chẽ, sáng suốt, cóđường lối đúng đắn và thiếu hẳn một thời cơ cách mạng… nên thựcdân Pháp dễ dàng đàn áp.Chính vì những nguyên nhân cơ bản đó, khuynh hướng dân chủtư sản đã thất bại ở Việt Nam như một tất yếu lịch sử.2.4. Vị trí của khuynh hướng dân chủ tư sản trong cuộc vậnđộng giải phóng dân tộc Việt NamDù thất bại, song các phong trào yêu nước theo khuynh hướngdân chủ tư sản vẫn có một vị trí quan trọng trong cuộc vận động giảiphóng dân tộc Việt Nam Trong lúc cách mạng Việt Nam đang bế tắc thì tư tưởng dân chủtư sản xuất hiện giải quyết được yêu cầu lịch sử đặt ra. Tư tưởng dân19chủ tư sản xuất hiện đúng lúc, đem đến cho nhân dân niềm hy vọng,niềm tin mới. Nó được tiếp nhận nồng nhiệt và nhanh chóng pháttriển thành phong trào đấu tranh với nhiều hình thức khác nhau. Tưtưởng dân chủ tư sản còn có tác dụng lớn trong việc bồi đắp thêmlòng yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân tronglúc khuynh hướng cứu nước cũ đã mất vai trò lãnh đạo. Các phongtrào này còn góp phần tạo cơ sở quần chúng rộng rãi cho cách mạngViệt Nam sau đó. Nó còn đặt cơ sở xã hội, tạo tiền đề cho sự vậnđộng sang một khuynh hướng mới, khuynh hướng vô sản, phù hợpvới cách mạng Việt Nam và đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.20KẾT LUẬNKhuynh hướng dân chủ tư sản do không phù hợp với quy luậtkhách quan, với thời đại và đặc điểm dân tộc Việt Nam nên khôngthể đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. Tuy nhiên,khuynh hướng này cũng có những đóng góp quan trọng cho lịch sửViệt Nam.Thành quả lớn nhất mà khuynh hướng dân chủ tư sản để lại chocách mạng Việt Nam là vấn đề “dân chủ”. Chính nó đã trực tiếp tạonên cuộc “cách mạng tư tưởng”cho dân tộc Việt Nam khi hệ tưtưởng phong kiến thống trị từ lâu đời. “Dân chủ” trở thành động lựccho đấu tranh chống thực dân, phong kiến, từ đó vựt dậy sức sốngcho phong trào cứu nước Việt Nam. Không có khuynh hướng dânchủ tư sản với tư tưởng mới “dân chủ” tồn tại thì sẽ không tạo rađược cơ sở quần chúng rộng lớn cho cách mạng. Và cách mạng ViệtNam mãi dừng lại ở mỗi mục tiêu “dân tộc” một cách riêng lẻ, sẽ bịthời đại vượt qua với mục tiêu “dân tộc-dân chủ” đi liền và đã phổbiến trên thế giới hàng thế kỉ.Khuynh hướng dân chủ tư sản còn tạo tiền đề quan trọng chuẩnbị cơ sở cho cách mạng Việt Nam những bước tiếp theo. Khuynhhướng vô sản xuất hiện, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi, kếthừa rất nhiều từ khuynh hướng dân chủ tư sản. Hồ Chí Minh kế thừaba nguyên tắc lớn của chủ nghĩa dân tộc của Tôn Trung Sơn: Độclập-Tự do-Hạnh phúc đặt tiêu ngữ cho nước Việt Nam sau cáchmạng Tháng Tám (1945). Đảng ta thấm nhuần vấn đề “dân chủ” làvấn đề của mọi thời đại nên đưa ra quan điểm “lấy dân làm gốc”(Đại hội VI 12/1986). Hiện nay, Việt Nam luôn phấn đấu xây dựngNhà nước “của dân, do dân, vì dân”. Đó là cơ sở cho việc xây dựngđất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”, ổn định và không ngừng phát triển.21Sự tiếp xúc với tư tưởng dân chủ tư sản còn làm cho tư tưởngnhân dân Việt Nam có sự mềm dẻo và nhạy bén hơn với thời cuộcluôn thay đổi vì tính bảo thủ đã bị xóa bỏ. Ngày nay, trước xu thế hộinhập và sự biến đổi phức tạp của quốc tế thì với tư duy nhạy bén,linh hoạt đó càng có ý nghĩa quan trọng. Như vậy, rõ ràng những gì mà khuynh hướng dân chủ tư sản đểlại cho cách mạng Việt Nam là vấn đề mà thế hệ sau cần phải nghiêncứu, nhìn nhận và đánh giá đúng để có thể chắt lọc ra những giá trịphù hợp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hôm nay.222324

Tải thêm tài liệu liên quan đến bài viết Khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản là gì