Về thương nghiệp nhà đường giao lưu buôn bán với các nước bằng cách nào | Preece Britney Roksana

Chức năng kinh tế của nhà nước thời cổ đại và trung đại

01/03/2002

TRẦN THÁI DƯƠNG

Đại học Luật Hà Nội

Từ viết tắt In trang Gửi tới bạn

Sau khi nhìn lại lịch sử các nhà nước thời cổ đại, trung đại, tư tưởng của các học giả thời cổ đại về vai trò kinh tế của Nhà nước, tác giả kết luận: lịch sử cho thấy tự do hoạt động kinh tế và vai trò điều tiết của Nhà nước trong lĩnh vực này là những yếu tố song hành, là tiền đề hay điều kiện của nhau.

Từ thời cổ đại đến nay, những vấn đề như Nhà nước có chức năng quản lý kinh tế hay không, phạm vi của nó đến đâu... vẫn là những vấn đề phức tạp, luôn luôn có tính thời sự và được tranh luận.

Theo các tài liệu lịch sử và qua nội dung các bộ luật cổ, ta có thể thấy, từ thời xa xưa, các nhà nướcđầutiên trong lịch sử đã từng sử dụng chính sách và pháp luật để điều chỉnh quan hệ kinh tế.

Các nhà nước cổ đại với việc quản lý kinh tế

Nền văn minh Babylon là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất và triều vua Hammourabi là thời kỳ cường thịnh nhất của Babylon (đời vua thứ 7 Vương triều thứ I của Babylon, khoảng từ 1793-1750 TCN). Để phát triển nền kinh tế nông nghiệp, Nhà nước Babylon đã tổ chức xây dựng những công trình tưới nước đồng thời phối hợp với các công xã và gia đình nông dân quản lý các công trình đó. Bộ luật Hammourabi - thành tựu văn hóa lớn nhất của vương triều Babylon (Bộ luật cổ còn lưu giữ được cho đến ngày nay) cùng với con sông đào mang tên Hammourabi- công trình tưới nước vĩ đại nhất được đào theo lệnh của nhà vua là những bằng chứng lịch sử sinh động thể hiện vai trò tích cực của Nhà nước Babylon trong việc quản lý kinh tế- xã hội thời bấy giờ. Bộ luật Hammourabi đã quy định tô ruộng đất các loại, quy định rõ các trường hợp thu tô, miễn tô; mức tô theo tính chất hoa màu, loại đất, theo thời tiết, thiên tai, nhân họa; bảo đảm để người có ruộng đất phát canh thu được tô; quy định về lợi tức cho vay; quy định tính trung thực của các bên trong quan hệ buôn bán; quy định các quan hệ thuê mướn tài sản, giá thuê nhân công; mức xử phạt các trường hợp làm đắm thuyền, trâu húc người, người làm công ăn cắp, để mất gia súc... 1 Theo ý kiến của các nhà sử học thì trong khu vực Lưỡng Hà cổ đại, trước Bộ luật Hammourabi (bộ luật mà người ta vẫn quan niệm là cổ xưa nhất) đã có Bộ luật Eshnuna với 61 điều, trong đó cũng có khá nhiều quy định về các quan hệ buôn bán 2

Nền kinh tế của Lưỡng Hà cổ đại dựa trên cơ sở quyền tư hữu đất đai và do vậy, " Nhà nước chỉ đóng vai trò giữ gìn trật tự, đặt ra các luật lệ với mục đích ấn định hoạt động kinh tế. Dân chúng theo đúng các luật lệ này để tự do kinh doanh " 3 .

Nhà nước La Mã cổ đại: Bộ luật 12 bảng- mô hình pháp lý của nền kinh tế - xã hội thời đế chế La Mã cổ đại cũng đã tập trung bảo vệ chế độ tư hữu một cách mạnh mẽ với các hình phạt dã man dành cho các hành vi xâm phạm quyền tư hữu. Vai trò của Nhà nước La Mã cổ đại lúc đó là xác lập và củng cố chế độ sở hữu tuyệt đối của giai cấp chủ nô, tạo nên cơ sở kinh tế đặc thù của kiểu nhà nước này. Đến thời kỳ khủng hoảng và suy vong của đế chế La Mã thì các vị hoàng đế chuyển sang áp dụng chính sách kinh tế chỉ huy và tiến dần đến chế độ Nhà nước hóa xã hội. Sự chuyển hướng này thể hiện qua sự can thiệp của chính quyền vào một số công việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu của các cư dân đô thị, chính sách độc quyền quốc gia, quốc hữu hóa một số xí nghiệp, một số ngành sản xuất như chế tạo vũ khí, khai thác mỏ... Nhà nước La Mã cổ đại can thiệp vào guồng máy kinh tế để sửa chữa hay giải quyết những khó khăn trong hoạt động sản xuất, trao đổi, ví dụ thực hiện chính sách bảo vệ ngoại thương nghiêm ngặt, trực tiếp nắm giữ một vài ngành buôn bán (như ngành buôn bán tơ lụa với Trung Quốc cổ đại). Năm 301 , " Hoàng đế Diocle ? tien đã ban hành đạo dụ ghi rõ những mức giá khống chế tối đa của trên một ngàn thứ hàng hóa, từ những thực phẩm (như rau cải, salade...) đến các loại giày; từ tiền công của người thợ cạo đến tiền lương của người thầy giáo về văn phạm... " 4 .

Ở ấn Độ cổ đại , bộ luật đầu tiên xuất hiện là Bộ luật Manu 5 . Ngoài các nội dung về tôn giáo, thần học, Bộ luật Manu tập trung quy định vấn đề bảo vệ quyền sở hữu tài sản của nhà nước quân chủ chuyên chế và các đẳng cấp trên, như: quyền sở hữu ruộng đất, ao hồ, đồ vật, nguồn nước; quy định cách làm hợp đồng mua bán, vay mượn, cầm cố... 6

Tại Trung Quốc, từ thời cổ đại đã hình thành quan hệ buôn bán với các nước châu Âu thông qua "con đường tơ lụa" mang đậm nét sử thi. Nhà nước Trung Quốc cổ đại đã đóng vai trò khá tích cực cho việc khai thông, mở mang và bảo vệ con đường buôn bán, trao đổi Âu - Á quan trọng bậc nhất thời bấy giờ. Bằng chứng cụ thể là nhà Đông Hán (vua Hán Vũ- 138 TCN) đã thực hiện chính sách thu phục các nước ở vùng Tây Vực (thuộc khu Tân Cương Trung Quốc và vùng Trung Á ngày nay) nhằm bảo đảm an ninh thông suốt cho con đường tơ lụa, sao cho các thương nhân có thể vượt qua các vùng hoang mạc, cao nguyên xa xôi, với bao thử thách gian nguy như thú dữ, địa hình hiểm trở, nạn cướp quấy phá để đem tơ lụa đến tận thị trường tiêu thụ. Con đường buôn bán có một không hai này tồn tại và phát huy tác dụng đến hàng chục thế kỷ và đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các dân tộc trên thế giới 7 .

Trong lịch sử nhân loại, nền văn minh Ai Cập là nền văn minh xuất hiện rất sớm (từ thiên niên kỷ thứ V đến thiên niên kỷ thứ I TCN). Nền văn minh cổ Ai Cập đã biết đến chế độ nhà nước chuyên chế với nền kinh tế chỉ huy vì điều kiện tự nhiên đòi hỏi phải tập trung sức mạnh của số đông dân cư và những công trình tập thể như đập nước, hệ thống kênh mương để dẫn thủy nhập điền, khai thông sông ngòi để khai thác các tiềm năng của con sông Nil... Họ cũng đã từng biết đến các biện pháp cưỡng chế của nhà nước qua các quy định về tát nước, xét xử về việc để ngập lụt... Nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế thế giới Phan Thiện Giới đã có nhận xét rằng: " Sông Nil đã dựng nên đế quốc các triều đại vua Pharaons và một nền kinh tế chỉ huy với nguyên tắc tập quyền, tất cả phụ thuộc vào một chủ nhân, nghĩa là một nền quân chủ chuyên chế " 8 . Cho đến thiên niên kỷ thứ II TCN, vai trò chỉ huy nền kinh tế của nhà nước Ai Cập còn được thể hiện rõ ở chỗ chính quyền đã ngăn cản mọi sự đi lại tự do kinh doanh đồng thời nắm giữ trong tay hầu hết các sản phẩm và phân phối các hàng hóa, khiến cho cả nội thương và ngoại thương đều không phát triển. Giữa thiên niên kỷ thứ II, đế quốc Ai Cập trở nên hùng mạnh, nền kinh tế Ai Cập cổ đại bước vào thời kỳ sáng láng nhất thì vai trò kinh tế của nhà nước lại càng đậm nét hơn. Người ta khai thác đất nhân danh nhà vua và cho nhà vua. Ruộng đất phần nhiều là của hoàng gia hay của các đền miếu. Người ta đã trao cho các công chức, lính tráng, tu sĩ quản lý những đất đai, rồi những người này cho nông dân lĩnh canh lại. Thợ thuyền và người lao động khác làm việc cho nhà nước hợp thành phường để hoạt động và được trả công bằng thực phẩm hoặc đất đai để quản lý 9 .

Tư tưởng của các học giả thời cổ đại

Vai trò của Nhà nước thời cổ đại còn được phản ánh qua tư tưởng của các học giả đương thời. Các nhà triết học cổ của những cái nôi của nền văn minh thế giới như Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã..., đều ủng hộ nền kinh tế tự nhiên, chế độ tư hữu của các giai cấp chủ nô và địa chủ phong kiến.

Trong hai tác phẩm là "Chính trị hay Nhà nước", viết khoảng năm 380-370 TCN và "Luật pháp", viết khoảng năm 366 - 347 TCN, Platon (427-347 TCN) đã cho rằng Nhà nước có vai trò quyết định đối với việc phát triển kinh tế. (Khi đó, Platon đã thấy được vai trò của sự phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất). ông cho rằng, Nhà nước có chức năng kiểm soát chặt chẽ, không cho mọi người thay đổi nghề nghiệp. Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại, với sự phồn thịnh của thành Aten - nơi mà chủ nghĩa tự do cá nhân và quyền tư hữu được đề cao thì " trên phương diện xã hội, không còn quy tắc nào cao hơn vì tất cả đều theo sở thích cá nhân... Trên phương diện kinh tế, sựtự do kinh doanh được tôn trọng cũng như tự do làm việc, tự do di chuyển ..." 10 . Còn Platon phản đối các biểu hiện trọng thương và đề nghị giảm bớt số thương gia, buộc họ phải áp dụng những giá cả công bằng và tất cả những quy tắc này đều do Nhà nước ban hành. Tư tưởng của Aristote thì ủng hộ nền kinh tế hiện vật, ông đề nghị Nhà nước cấm mọi việc cho vay lấy lãi và cho rằng mọi sự đổi chác đều có tính cách phi sản xuất. Aristote đòi hỏi sự can thiệp của chính quyền trong việc quy định chặt chẽ dân số hay phân phối tài sản một cách chuyên quyết 11 .

Vào thời kỳ cuối, chính sách kinh tế của nhà nước Hy Lạp cổ đại cũng là chính sách kinh tế chỉ huy nhằm chống lại quá trình suy vong của chế độ. Nhà nước không chỉ khuyến khích thương mại tự do và bảo vệ tiêu thụ mà chính quyền còn phải thân chinh mua lúa mì để bán lại cho dân với giá rẻ, khai thác các công quản hay đấu thầu các hầm mỏ như Rhodes, Smyrue và Paros. Chính quyền còn kiểm soát việc sản xuất và ấn định giá cả, đôi khi cũng phải can thiệp để giảm bớt việc di dân 12 .

Trong cuộc tranh luận giữa phái Khổng Tử và Phái pháp gia về vấn đề chủ trương "đức trị" hay "pháp trị" ở thời Xuân thu - Chiến quốc, Mạnh Tử (327 TCN) - người kế tục xuất sắc tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử đã đưa ra kiến nghị khôi phục chế độ sở hữu ruộng đất của công xã (chế độ tỉnh điền), theo đó người nông dân được cày cấy trên ruộng đất riêng và chung, lấy thu hoạch nộp cho nhà nước. Chế độ tỉnh điền mà Mạnh Tử kiến nghị khôi phục có nội dung như sau: Mỗi dặm vuông là một tỉnh, mỗi tỉnh có 900 mẫu; 100 mẫu ở chính giữa là công điền, 8 nhà ở xung quanh đều được cấp mỗi nhà 100 mẫu làm tư điền và đều có trách nhiệm trông nom công điền; cày cấy xong công điền sau đó mới được cày cấy ruộng tư của mình, có nghĩa là Nhà nước chia mỗi dặm vuông ruộng đất làm 9 khu theo hình chữ tỉnh, khu ở giữa là công điền, 8 khu còn lại là tư điền chia cho 8 nhà canh tác. Công điền do 8 nhà canh tác giúp, gặt hái xong giao nộp hết thóc lúa lên trên. Chế độ tỉnh điền là chế độ ruộng đất lý tưởng ở thời cổ đại của Trung Quốc, có ảnh hưởng tương đối sâu rộng 13. Cũng trong thời kỳ này, Trung Quốc đã hình thành tư tưởng Nhà nước điều tiết các quan hệ mua bán, giá cả để tạo sự ổn định về kinh tế - xã hội. Các học giả đề xuất việc Nhà nước cần thu mua lương thực dư thừa trong những năm được mùa, bán ra trong những năm mất mùa như vậy, sẽ ổn định được giá cả lương thực, khiến cho dân thì không bị thương tổn còn nhà nông thì càng được khuyến khích 14 .

Vào cuối thời Xuân thu, ở Trung Quốc, thuyết của Phạm Lãi và Kế Nhiên đã đề xuất quan điểm kinh doanh và làm giàu nhờ vào thương nghiệp, trong đó nêu rõ ba điểm mấu chốt để làm giàu là: phải dự đoán thị trường, phải có sách lược kinh doanh cũng như phải có chính sách giá cả hợp lý, năng động. Về mặt vĩ mô, Nhà nước phải có cách điều tiết cung cầu, kiểm soát vật giá, ổn định thị trường và bán lương thực theo giá chỉ đạo 15 . Thật ra, ở Trung Quốc cổ đại, không chỉ có tư tưởng Nhà nước đóng vai trò bình ổn giá lương thực mà hơn nữa là tư tưởng bình ổn giá cả thị trường nói chung. Tang Huyền Dương - học giả thời Tây Hán (năm 110 TCN) đã đưa ra biện pháp bình ổn vật giá gọi là "bình chuẩn luận". Bình chuẩn nghĩa là Nhà nước thông qua cơ quan chuyên môn, đối với giá cả thị trường - khi đắt thì bán, khi rẻ thì mua để ổn định vật giá 16 .

Ở Trung Quốc cổ đại, tư tưởng pháp trị đã từng thắng thế và cơ sở của hệ tư tưởng ấy là chế độ kinh tế, chính trị của nhà Tần. Dưới thời nhà Tần, Thương Ưởng đã thực hiện cuộc cải cách lừng danh, trong đó nêu cao vai trò của Nhà nước và pháp luật trong việc quản lý kinh tế - xã hội; xóa bỏ chế độ tỉnh điền, cho phép mua bán đất đai, thực hiện chính sách trọng nông, ức thương... ông ra sức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp để làm cho nước giàu, binh mạnh. Cải cách của Thương Ưởng đã tăng cường năng lực của thể chế nhà Tần và đặt cơ sở nền móng cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền thống nhất ở Trung Quốc. Tuy vậy sau đó, lịch sử đã chứng kiến sự thắng thế và những ảnh hưởng rất sâu rộng của hệ tư tưởng Nho giáo. Hệ tư tưởng này tác động lớn đến chính sách phát triển kinh tế của các triều đại phong kiến Trung Quốc và nhiều quốc gia lân cận.

Nhà nước phong kiến và chức năng kinh tế

Trong lịch sử thế giới, kiểu Nhà nước phong kiến thay thế cho kiểu Nhà nước chủ nô. Nhà nước phong kiến thực hiện chức năng bảo vệ, duy trì chế độ phát canh thu tô, chế độ chiếm hữu ruộng đất kiểu phong kiến và sự phân chia xã hội thành những đẳng cấp khác nhau. Tuy vậy, với tư cách là người quản lý xã hội, các triều đại phong kiến ở mọi quốc gia, dù ít hay nhiều đều quan tâm khai khẩn, mở mang phát triển nền nông nghiệp, thủ công nghiệp; chế ngự thiên nhiên; thực hiện một số chính sách giao lưu buôn bán giữa các vùng, các dân tộc...

Thời phong kiến, ở phương Tây có bộ luật nổi tiếng viết bằng tiếng Latin là Bộ luật Xalich (thế kỷ V - VI) của Vương quốc Fran - vương quốc của người "dũng cảm", người "tự do", (gồm có 100 điều chia thành 65 chương). Bộ luật Xalich là công cụ quản lý nhà nước đầu tiên của Nhà nước phong kiến ở Tây Âu. Nội dung chủ yếu của Bộ luật Xalich nhằm bảo vệ quyền tư hữu về tài sản như ruộng đất, trang trại, súc vật... của giai cấp phong kiến, chống lại hành vi ăn trộm, ăn cướp nô lệ, súc vật...; quy định chế độ thừa kế tài sản trong xã hội, trong đó xác định nguyên tắc di sản thừa kế là ruộng đất dù bất kỳ thế nào cũng không được chuyển cho phụ nữ mà phải đem toàn bộ đất đai chuyển cho nam giới. Bộ luật Xalich còn quy định hình phạt với các hành vi nợ nần, ăn trộm súc vật cũng như thủ tục và cách xét xử tội phạm. Bộ luật Xalich với các điều khoản chặt chẽ và nghiêm khắc thật sự là công cụ quản lý kinh tế - xã hội quan trọng của vương quốc Fran thời trung cổ ở Tây Âu 17 .

Trong chế độ phong kiến, chính sách kinh tế quan trọng nhất của các vương triều ở cả phương Đông và phương Tây đều là chính sách điền địa và chính sách tô thuế, vì đó chính là cơ sở tồn tại của chế độ Nhà nước quân chủ chuyên chế. Ở phương Tây, cho đến thế kỷ thứ X - XI, nền kinh tế của các quốc gia là nền kinh tế mang tính bế tỏa, sản xuất nông nghiệp là hoạt động chính. Chế độ điền thổ được thiết lập trên căn bản thái ấp thuộc quyền lãnh chúa hay giáo hội. Nền kinh tế thời đó không có tính cách trọng thương vì không có tiền tệ 18 . Ở Trung Quốc, chế độ quan điền là chế độ trực tiếp chiếm hữu ruộng đất của chính quyền phong kiến hoặc vương thất của các triều đại. Trong chế độ này, người có ruộng kinh doanh bằng cách cho nông dân cày cấy thuê, nhà nước thu địa tô. Nội dung cụ thể cũng như tên gọi của chế độ quan điền qua các triều đại có khác nhau ít nhiều.

Qua mấy nét lịch sử về kinh tế các nước trên thế giới có thể nhận thấy rằng, ngay từ thời cổ, người ta đã bắt đầu phải tìm kiếm những mô hình thích hợp và những giới hạn cần thiết cho sự tác động của Nhà nước đến đời sống xã hội nói chung cũng như các quan hệ kinh tế nói riêng và đó là công việc mà ngày nay nhân loại vẫn còn tiếp bước. Lịch sử cho thấy, tự do hoạt động kinh tế và vai trò của Nhà nước luôn luôn là những yếu tố song hành như là tiền đề hay là điều kiện của nhau./.

Về thương nghiệp nhà đường giao lưu buôn bán với các nước bằng cách nào

1. Almanach - Những nền văn minh thế giới (1997), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.1011.

2. Sđd, tr.1011

3. Phan Thiện Giới (1970)- Lịch sử kinh tế, Học viện hành chính quốc gia, Sài Gòn, tr.17.

4. Sđd, tr.74

5. Một trong những bộ luật cổ nhất phương Đông, ra đời vào những năm đầu Công nguyên, với 2685 điều chia thành 12 chương.

6. Almanach - Sđd, tr.1012.

7. Sđd, tr.726

8. Phan Thiện Giới (1970)- Sđd, tr.17

9. Sđd, tr.23-24

10.Sđd, tr.50

11.Sđd, tr.54

12.Sđd, tr.57

13.Đại Từ điển kinh tế thị trường, Viện Nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998), Hà Nội, tr.136

14.Sđd, tr.133

15.Sđd, tr.134

16.Sđd, tr.135

17.Almanach - Sđd, tr.1014.

18.Phan Thiện Giới (1970)- Sđd, tr.79

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3 tháng 3/2002)