Vì sao bể bơi có màu xanh cucl2 | Raj Keith Rivers

Có một sự thật mà không mấy ai để ý, đó là bể bơi (nhất là bể ngoài trời) được coi là một trong những địa điểm dễ bị ô nhiễm nhất. Những bể dạng này thường xuyên tiếp xúc với môi trường bên ngoài, dễ bị nhiễm khuẩn bởi bụi bẩn, các loại vi trùng, tảo bao bào tử trong nước mưa, phân chim…

Ngoài ra, nguồn thải ô nhiễm ra bể bơi còn bao gồm các vi sinh vật, lượng dầu bài tiết trên cơ thể người đi bơi như mồ hôi, mỹ phẩm, kem chống nắng, nước tiểu, nước bọt…

Do đó, bể bơi bắt buộc phải được xử lý hóa học trước khi đem vào sử dụng. Thành phần không thể thiếu trong nước bể bơi thường bao gồm clo. Đây là hóa chất dùng để khử trùng, tiêu diệt các thành phần gây ô nhiễm nước bể.

Clo được sử dụng dưới hai dạng chủ yếu là calcium hypochlorite (rắn) và sodium hypochlorite (lỏng). Hai hợp chất này tác dụng với nước tạo thành axit hypochlorous. Axit này giết chết vi khuẩn và các mầm bệnh bằng cách phá vỡ màng lipid, tiêu diệt enzyme và ấu trùng bên trong tế bào vi khuẩn thông qua phản ứng oxy hóa.

Tuy nhiên, axit hypochlorous rất dễ bị phân hủy khi tiếp xúc với tia cực tím từ ánh sáng Mặt trời. Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả trong việc xử lý nước bể, người ta thường cho thêm axit cyanuric, phản ứng với clo tự do trong axit hypochlorous tạo nên hợp chất ổn định hơn.

Cuối cùng, để duy trì sự cân bằng độ pH của nước bể, người ta sử dụng các hóa chất có tính kiềm như sodium carbonate hoặc sodium bicarbonate. Một bể bơi có nước đạt tiêu chuẩn phải có độ pH trung bình khoảng 7,2 – 7,8 theo Langelier Saturation Index.

Ngoài ra, một số bể bơi được cho thêm hóa chất làm xanh, tạo hiệu ứng cho nước bể bơi giống nước biển nhưng không gây hại cho người sử dụng.

Để có được những giờ phút thoải mái trong bể bơi, công việc dọn vệ sinh và xử lý nước bể bơi luôn là ưu tiên hàng đầu. Tùy thuộc vào tần suất sử dụng, diện tích bể và điều kiện thời tiết, môi trường, mỗi bể bơi lại có những cách thức làm sạch nước bể khác nhau. Tuy nhiên, tựu chung lại quá trình xử lý trên phải đạt được những điều sau:

Thứ nhất, cần thường xuyên kiểm tra độ pH của nước bể bơi. Nước có độ pH quá thấp hay quá cao đều có tác hại rất xấu tới sức khỏe của người sử dụng. Có một điều ít ai biết, mùi khó chịu thường gặp khi đi bơi không phải là do bể được cho quá nhiều clo mà nguyên nhân là quá nhiều chloramine (hóa chất được tạo nên bởi axit hypochlorous với amoniac trong nước tiểu) gây ra. Để xử lý tình trạng này, thậm chí cần phải cho thêm nhiều clo vào trong bể mới giải quyết được.

Thứ hai, vệ sinh nước bể bơi cần chú ý tới cả vệ sinh bể. Điều đó đồng nghĩa với việc phải thường xuyên xả hết nước bể bơi, tẩy trùng thành bể bằng hóa chất. Công việc này giúp loại bỏ khả năng xuất hiện rêu, tảo gây bệnh trong nước hồ bơi khi sử dụng

Thứ ba, chúng ta cần làm vệ sinh bộ lọc nước bể bơi. Nước bể trước khi được đưa vào sử dụng cần đi qua một bộ lọc cát hoặc đất mùn nhằm loại bỏ bước đầu các thành tố gây ô nhiễm. Tuy nhiên, chính bộ lọc này cũng nên thường xuyên được vệ sinh, chăm chút nhằm tránh khỏi tình trạng vô tình gây ô nhiễm cho nước bể.

Nước bể bơi không đạt tiêu chuẩn được xem là hung thần cho sức khỏe con người. Những bể bơi không được tẩy trùng kĩ sẽ là môi trường sống cho rất nhiều các loại khuẩn như Cryptosporidium – nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy ở người hay khuẩn Chlamydia Trachomatis – hung thủ của viêm kết mạc ở mắt.

Ngược lại, những bể bơi có chứa quá nhiều chất tẩy trùng lại gây kích ứng da, mắt vì nồng độ clo quá lớn, độ pH thấp.

Đặc biệt, clo được sử dụng với lượng lớn có thể gây rất nhiều nguy hiểm cho người bơi. Các nhà khoa học Mỹ đã thực hiện thí nghiệm thu thập nước ở các bể bơi công cộng và nước máy để xét xem mức độ genotoxicity (quá trình gây biến đổi ADN).

Kết quả thu được chứng minh rằng, mẫu nước chứa quá nhiều clo ở bể bơi gây ảnh hưởng lên ADN vượt trội hoàn toàn so với nước máy. Ngoài ra, trong các bể bơi trong nhà, clo thừa trong nước không thể thoát ra, dễ gây kích ứng hệ hô hấp của người bơi nếu hít phải quá nhiều.

 

Để đi bơi an toàn, các bạn cần chú ý quan sát bể bơi mình sắp tới. Nếu bể đó có số lượng người vừa phải, nước trong khi nhìn bằng mắt thường và không có mùi, đó là bể bơi có thể sử dụng. Ngược lại, nếu bể bơi nước vẩn đục hoặc có mùi clo gây sốc đặc trưng, số người bơi nhiều thì cần cân nhắc về việc có nên tiếp tục bơi hay không.

Ngoài ra, dù ở bể bơi nào các bạn cũng nên tắm vòi sen trước khi xuống bể nhằm hạn chế mồ hôi, mỹ phẩm… trên cơ thể – những chất tiềm năng gây ô nhiễm bể bơi. Đồng thời, bạn cần sử dụng kính bơi chặt, tránh nước bể xâm nhập vào mắt, cũng như vệ sinh cơ thể bằng thuốc nhỏ mắt, bông tai sau khi đi bơi để tránh lây nhiễm các bệnh tiêu chảy, viêm kết mạc…

Một lưu ý nhỏ nữa là bạn không nên đi tiểu dưới bể bơi. Nghiên cứu mới đây đã chỉ ra, hợp chất có trong nước tiểu kết hợp với Clo có thể gây ra nhiều tác động xấu đến sức khỏe như tổn thương tế bào di truyền, gây bệnh suyễn, ung thư…

Để đi bơi an toàn, các bạn có thể tự nhận biết và đánh giá tình trạng nước của bể bơi qua một số cách như sau:

– Ngửi mùi: nếu bể bơi có mùi clo gây sốc đặc trưng, khiến bạn cảm thấy khó chịu khi ngửi thấy thì có nghĩa là nước trong bể đã không được xử lý tốt.

– Màu nước: màu nước trong tự nhiên, nhìn thấy rõ đáy bể, có màu xanh vừa phải, không có vẩn đục hay vật thể lạ. Nếu bể có màu xanh bất thường (khác với màu trời) thì cần chú ý.

– Quan sát số lượng người đến bơi: con người cũng là 1 trong những tác nhân khiến bể bơi nhiễm “độc”. Nếu số lượng này quá đông, máy lọc nước tại bể sẽ không thể lọc kịp để loại bỏ các độc tố.

Tag: gì biểu dị chữa đen thiết nhiệt kế cấp mini thống hộp thử resort nóng gần hà nội gia đình vây xinh cá vàng intex khách sạn sapa đường ống tam đảo uống sao đà nẵng rẻ bơm mơ phao tắc nằm mặn ngoi lặn nhạc nhi hải phòng olympia đô phạm ngũ lão phim hoạt hình vũ trọng phụng phun quy qcvn hoàng quốc việt 115 quán thánh quận bà rãnh remix sơ đồ sặc smeww 9213 b – xác tuần thay thác thanh vận hành xuan mai mp3 nhẹ nhàng lời hát youtube legacy yên video clip trả đuối quảng ninh đun 2018 bora vụ bọ vé viên tây tay hapulico thế trắng lá cây nhiêu test lâu bồn bóng cột cụ keo dán gạch hư tắm em bé flo fluor sài gòn giả ấm lạt lỡ lịch màn ngủ nấm tphcm phễu phú hưng maia swimming pool thọ ngày trần vũng tàu tầng rút rửa đầm ngứa tcvn vĩ nhựa liệu karaoke thuê đèn âm hoà lần 60 lít 6 vịt đang q7 chuyển dương aeon bản vẽ báo bán cầu trượt nghệ cung thao xây dựng khu du khuất tiến everest ecopark flc sầm sơn flamingo đại lải vĩnh phúc k giảm

2020-04-06

Hóa học ở chương trình THPT có hai phần chính: Hóa vô cơ và Hóa hữu cơ. Cái khó khi học môn Hóa nằm ở chỗ lớp 11 học một nửa hữu cơ, một nửa vô cơ và lớp 12 học phần còn lại. Do đó khi thầy cô dạy các em chương trình Hóa lớp 12, các em phải xem lại phần liên quan ở lớp 11.

Ví dụ, bài Este ở lớp 12 liên quan đến bài Ancol và bài Axit cacboxylic ở lớp 11; bài Cacbohidrat ở lớp 12 liên quan đến bài Ancol, Andehit ở lớp 11; bài hợp chất chứa Natri (NaOH, Na2CO3...) ở lớp 12 liên quan đến bài phản ứng trao đổi Ion ở lớp 11...

Dù hóa vô cơ hay hữu cơ, phần cốt lõi của môn Hóa học nằm trong hóa tính và điều chế các chất. Sau khi nắm vững các phần này, việc kế tiếp là các em phải hệ thống lại các bài học thì mới có thể vận dụng chúng dễ dàng (giai đoạn này nếu các em không làm được thì yêu cầu sự giúp đỡ của thầy cô).

Đối với phần Hóa học hữu cơ, để dễ nhớ tính chất của các chất, các em phải đi từ cấu tạo của hợp chất hữu cơ đó. Ví dụ, Phenol trong công thức hóa học của nó vừa có vòng benzen, vừa có nhóm OH nên nó sẽ vừa có tính chất giống benzen, vừa có tính chất giống ancol. Và đương nhiên nó có các tính chất đặc trưng vì có ảnh hưởng qua lại của hai nhóm này.

Khi học xong các chất ancol, andehit, axit cacboxylic, este, amin, amino axit, gluxit... các em đặt lại vấn đề như sau: các tác nhân như Na, NaOH, H2, H2O, Br2... có thể tác dụng với những chất hữu cơ nào trong các chất trên. Tìm xem các điểm giống nhau và khác nhau giữa các chất. Khi đã hệ thống được các kiến thức, các em mới bắt đầu làm các bài tập lý thuyết như: viết công thức đồng phân, sơ đồ biến hóa, nhận biết hóa chất và tinh chế hóa chất...

Quảng cáo

Các em nên làm bài tập theo từng vấn đề để rút kinh nghiệm. Nên nhớ, tuy hiện nay, các em thi đề trắc nghiệm nhưng khởi đầu để ôn tập phải biết cách lập luận của đề tự luận, nếu không các em sẽ không biết bắt đầu từ chỗ nào để đến kết quả.

Ví dụ: "Cho từ từ dung dịch NH3 đến dư vào dung dịch CuCl2 khuấy đều đến khi có dư, ta thấy hiện tượng như sau: a/ Ban đầu thấy xuất hiện kết tủa, dung dịch mất mầu xanh, sau một thời gian kết tủa tan dần tạo dung dịch xanh thẫm; b/ Thấy xuất hiện kết tủa, dung dịch mất mầu xanh; c/ Dung dịch từ từ mất mầu xanh. d/ Dung dịch trong suốt.

Phân tích câu hỏi trên ta thấy kiến thức chuẩn ở phản ứng: 2NH3 + CuCl2 + H2O --> 2NH4Cl + Cu(OH)2. Dung dịch CuCl2 có mầu xanh, Cu(OH)2 là chất rắn mầu xanh. Nên sau phản ứng trên thì dung dịch mất mầu và xuất hiện kết tủa xanh. Cu(OH)2 có khả năng tan trong NH3 nên tác dụng với NH3 theo phản ứng: Cu(OH)2 + 4NH3 --> Cu(NH3)4 (OH)2

Xét đến thí nghiệm đề bài cho: ban đầu CuCl2 dư có Cu(OH)2 không tan trong nước, xuất hiện kết tủa xanh. Sau một thời gian có NH3 dư Cu(NH3)4 (OH)2 tan trong nước: dung dịch mầu xanh thẫm. Do đó đáp án đúng là câu A.  

Quảng cáo

Khi làm bài thi các em thường mắc phải những lỗi sau:

1/ Không thuộc tên gọi các chất hóa học: ví dụ nhầm lẫn giữa “etyl clorua” với “etylen clorua”…

2/ Không nắm vững các khái niệm căn bản: ví dụ nhầm lẫn giữa “mạch hở” và “mạch thẳng”…

3/ Chủ quan khi viết các phương trình phản ứng nhưng lại quên cân bằng phương trình.

4/ Sử dụng máy tính không phải của mình khi tính toán trong các bài toán…  

CLB Gia sư thủ khoa chia sẻ với cho các em khi làm bài trắc nghiệm nên làm lần lượt từ trên xuống dưới, câu nào chưa làm được ngay thì đánh dấu lại và chuyển qua câu khác. Sau khi làm đọc đến hết đề sẽ làm lại các câu mình chưa làm được.

Trong quá trình làm nên bấm giờ, nếu gần hết thời gian vẫn còn các câu trống thì hãy dùng phương pháp xác suất để chọn câu trả lời. Chú ý, khi chọn là xác suất các câu đúng ngang nhau, ví dụ như một đề có 50 câu thì xác suất có khoảng 13 câu đáp án A đúng, 13 câu đáp án B đúng, 13 câu đáp án C đúng, 13 câu có đáp án D đúng. Do đó các em cứ làm hết sức có thể, đến khi còn khoảng 5 phút cuối cùng thì dừng lại để thống kê số lượng đáp án đã tích. Chẳng hạn nếu số đáp án D các em chọn quá ít thì những câu còn lại các em cứ tích D, như thế sẽ tối ưu hóa được số điểm đạt được.

Câu lạc bộ Gia sư thủ khoa

Tải thêm tài liệu liên quan đến bài viết Vì sao bể bơi có màu xanh cucl2