Thể loại
Tất cả

vdanang.com

Genz

99318

99318

8

Vì sao doanh nghiệp cần phải nghiên cứu môi trường quản trị

Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh

Bất cứ một doanh nghiệp nào đều tham gia
trong một môi trường và đều phụ thộc vào nó.
Trong môi trường ấy có những điều kiện thuận
lợi đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và cũng không hiếm những nguy cơ,
thách thức. » Xem thêm

Show
  • Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh
  • Đề tài thuyết trình môn Quản trị học " Môi trường quản trị "
  • Vì sao trong hoạt động kinh doanh cần thiết phải nghiên cứu môi trường marketing? Lấy ví dụ cụ thể của sự ảnh hưởng tới mỗi môi trường Marketing vĩ mô khi Việt Nam gia nhập WTO
  • 1. Môi trường bên trong doanh nghiệp
  • Video liên quan
Vì vậy nghiên cứu môi trường kinh
doanh nghiệp nhận thức được đâu là cơ hội, là
điều kiện thuận lợi, đâu là thách đố, là nguy cơ,
thuận lợi là chủ yếu hay nguy cơ là chủ yếu…
Từ đó quyết định các vấn đề có liên quan đến
hoạt động kinh doanh của mình....» Thu gọn
Chủ đề:
  • kiểm tra môn marketing
  • hoạt động kinh doanh
  • môi trường kinh doanh
  • doanh nghiệp nhà nước
  • doanh nghiệp nước ngoài
Download
Xem online

Tóm tắt nội dung tài liệu

  1. Bài kiểm tra môn Marketing
    Đề bài: Vì sao trong hoạt động kinh doanh cần
    thiết phải nghiên cứu môi trường marketing?
    Lấy ví dụ cụ thể của sự ảnh hưởng tới mỗi
    môi trường Marketing vĩ mô khi Việt Nam gia
    nhập WTO.
    Bài làm
    Ι. Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường
    marketing trong hoạt động kinh doanh của
    doanh nghiệp.
    Bất cứ một doanh nghiệp nào đều tham gia
    trong một môi trường và đều phụ thộc vào nó.
    Trong môi trường ấy có những điều kiện thuận
    lợi đối với hoạt động kinh doanh của doanh
    nghiệp và cũng không hiếm những nguy cơ,
    thách thức. Vì vậy nghiên cứu môi trường kinh
    doanh nghiệp nhận thức được đâu là cơ hội, là
    điều kiện thuận lợi, đâu là thách đố, là nguy cơ,
    thuận lợi là chủ yếu hay nguy cơ là chủ yếu…
    Từ đó quyết định các vấn đề có liên quan đến
    hoạt động kinh doanh của mình.
    Môi trường marketing bao gồm môi trường
    Marketing vĩ mô và môi trường Marketing vi
    mô.
    -Môi trường marketing vĩ mô bao gồm các yếu
    tố, các lực lượng mang tinh chất xã hội rộng
    lớn, chúng có ảnh hưởng đến toàn bộ môi
    trường marketing vi mô, tất cả các yếu tố của
    môi trường này người làm marketing không thể
    kiểm soát được. Vì vậy, họ phải nghiên cứu
    thật kĩ để tìm cách thích nghi. Trong đó:
    Nghiên cứu về dân số giúp doanh nghiệp nắm
    bắt được thị trường của mình, cung ứng những
    sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng đối tượng
    khách hàng và biết được sức cầu của công
    chúng nhằm cung ứng một lượng hàng nhất
    định.
    Nghiên cứu môi trường kinh tế giúp doanh
    nghiệp nắm được sức mua và cơ cấu chi tiêu
  2. của dân cư, từ đó đưa ra kế hoạch sản xuất phù
    hợp.
    Nghiên cứu môi trường văn hóa-xã hội giúp
    doanh nghiệp hiểu được những phong tục tập
    quán thói quen, tiêu dùng của từng nhóm dân cư
    ở các vùng và từ đó cung ứng những sản phẩm
    và dịch vụ hợp với nền văn hóa của nơi đó.
    Nghiên cứu môi trường chính trị và pháp luật:
    hiểu được những qui định, pháp lý, những
    quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp sẽ có
    kế hoạch để tận dụng tối đa những quyền lợi
    mà pháp luật đem lại đồng thời kinh doanh đúng
    pháp luật,thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.
    Việc xem xét tình hình chính trị có ổn
    định hay không tạo điều kiện cho doanh nghiệp
    có những quyết định đầu tư an toàn nhất.
    Nghiên cứu môi trường khoa học và công
    nghệ: có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tạo ra
    những cơ hội cũng như những thách thức trong
    hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây
    cũng là một trong những nhân tố mang tính chất
    quyết định khi doanh nghiệp cạnh tranh với các
    đối thủ khác trên thị trường.
    Nghiên cứu môi trường tự nhiên giúp doanh
    nghiệp trả lời câu hỏi về nguyên nhiên vật liệu
    và việc xử lý phụ phẩm.
    II. Tác động của việc VN gia nhập WTO tới
    mỗi môi trường marketing vĩ mô.
    1. Môi trường dân số
    2. môi trường kinh tế
    Phần lớn các chuyên gia kinh tế của chúng ta
    đều cho rằng những vận hội và thách thức này
    đan xen nhau, trong vận hội có thách thức, trong
    thách thức có vận hội. Trong vận hội có thách
    thức ở chỗ, dù có vận hội to lớn, nhưng nếu ta
    không có khả năng nhận biết nó, có gan giành
    lấy nó, có sức nắm bắt, khai thác nó, thì nó sẽ
    trôi đi hoặc người khác sẽ giành lấy mất.
  3. Những vận hội và thách thức nào đang chờ đón
    chúng ta khi gia nhập WTO?
    Về vận hội, đây là thời cơ mới để chúng ta
    thúc đẩy việc mở rộng quan hệ thương mại và
    hợp tác kinh tế với các nước khác, tạo vị th ế
    vững chắc hơn trong tham gia phân công lao
    động quốc tế, đồng thời đẩy mạnh công cuộc
    đổi mới và phát triển kinh tế ở trong nước, tạo
    năng lực cạnh tranh mạnh hơn, đưa nền kinh tế
    đất nước lên trình độ phát triển cao hơn. Hai
    mặt này gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau, có
    thể cùng nhau tạo một bước ngoặt lớn trong
    tiến trình phát triển của nước ta.
    Về mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác
    kinh tế với các nước, những cơ hội cụ thể của
    chúng ta là:
    - Tận dụng việc các nước mở cửa thị trường
    cho hàng hoá và dịch vụ của nước ta, dành cho
    ta quy chế tối huệ quốc (MFN), không phân
    biệt đối xử để phát triển xuất khẩu, nhập khẩu
    một cách hiệu quả hơn. Do chưa phải là thành
    viên WTO, trong những năm qua hàng hoá của
    chúng ta xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài
    vẫn bị nhiều rào cản, bị phân biệt đối xử (điển
    hình nhất là hàng rào hạn ngạch đối với hàng
    dệt may, những hạn chế về xuất khẩu nông
    sản...). Những rào cản này khi được dỡ bỏ sẽ
    mở đường cho nhiều sản phẩm của VN thâm
    nhập mạnh hơn các thị trường bên ngoài, vừa
    đáp ứng nhu cầu về “đầu ra” cho nhiều ngành,
    nhiều sản phẩm và doanh nghiệp, vừa tạo thêm
    việc làm cho nhiều người lao động, vừa mang
    lại nguồn ngoại tệ cần thiết cho đất nước. Về
    nhập khẩu, do thuế giảm và các hàng rào khác
    được dỡ bỏ, chúng ta có thêm sự lựa chọn để
    nhập khẩu hiệu quả hơn những sản phẩm cần
    thiết về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
  4. trong nước. Nhập khẩu có vai trò quan trọng
    trong việc cung cấp công nghệ, thiết bị, vật tư
    “đầu vào” phục vụ quá trình công nghiệp hoá,
    hiện đại hoá nước ta; hiệu quả của nhập khẩu
    vừa góp phần tạo nên hiệu quả của nền kinh
    tế, vừa mang lại lợi ích lớn cho người tiêu
    dùng.
    - Tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài, kết
    hợp hiệu quả hơn các nguồn lực trong và ngoài
    nước để phát triển. Khi nước ta gia nhập
    WTO, các cam kết quốc tế của chúng ta sẽ làm
    các nhà đầu tư nước ngoài thực sự yên tâm về
    môi trường đầu tư ở nước ta; đồng thời cam
    kết của các nước khác về mở cửa thị trường
    cho VN, triển vọng phát triển xuất nhập khẩu
    và mở rộng thị trường nội địa ở VN cũng tạo
    nên rất nhiều cơ hội mới cho họ để có thể đầu
    tư, khai thác thị trường VN về nhiều mặt. Thu
    hút thêm đầu tư nước ngoài, chúng ta không
    những có thêm các nguồn vốn, công nghệ, kỹ
    năng quản lý tốt hơn, mà còn khai thác hiệu quả
    hơn những nguồn lực và lợi thế sẵn có trong
    nước, tăng cường hơn quan hệ hợp tác nhiều
    mặt với các thị trường bên ngoài.
    - Tăng khả năng tham gia phân công lao động
    quốc tế một cách thuận lợi hơn, giành vị trí ổn
    định và có thể cao hơn trong chuỗi giá trị toàn
    cầu. Chưa có tư cách thành viên WTO, từ trước
    tới nay chúng ta tham gia phân công lao động
    quốc tế với nhiều hạn chế, thường chỉ tập
    trung vào khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, ít
    tham gia được vào các khâu khác có giá trị gia
    tăng cao hơn hẳn như các dịch vụ nghiên cứu,
    thiết kế sản phẩm, tiếp thị, phân phối... Ngay
    trong khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, sự cạnh
    tranh ngày càng mạnh trên thị trường cũng
    khiến chúng ta không dễ giữ được vị trí của
    mình. Gia nhập WTO tạo cho chúng ta vị thế
  5. bình đẳng, cạnh tranh hơn trên thị trường quốc
    tế, tăng niềm tin của các đối tác nước ngoài đối
    với chúng ta, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
    chúng ta khai thác, phát triển các năng lực mới
    của mình để tham gia phân công lao động quốc
    tế trên trình độ cao hơn, ở các khâu tạo giá trị
    gia tăng lớn hơn.
    - Đỡ phải gánh chịu những vụ khiếu kiện bất
    công, bất bình đẳng trong quan hệ thương mại
    với các đối tác do những quy định khá minh
    bạch, không phân biệt đối xử trong cơ chế giải
    quyết các tranh chấp thương mại quốc tế của
    WTO.
    - Tạo vị thế mới cho nước ta trong việc tham
    gia các vòng đàm phán toàn cầu, khu vực và
    song phương trong tương lai. Vị trí thành viên
    WTO cho phép chúng ta chủ động và bình đẳng
    khi tham gia các vòng đàm phán tiếp theo của
    WTO, bảo vệ và giành những lợi ích mới cho
    mình trong những lĩnh vực sẽ được đưa ra đàm
    phán. Trong các quan hệ ở các tổ chức khu vực
    cũng như các quan hệ song phương, vị thế của
    ta cũng bình đẳng hơn. Trên cơ sở này, chúng ta
    có thể tiến hành những cuộc đàm phán song
    phương mới nhằm nâng tầm quan hệ kinh tế
    của ta với các đối tác quan trọng.
    Về thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển
    kinh tế trong nước, những cơ hội cụ thể của
    chúng ta là:
    - Hoàn thiện thể chế thị trường, cải thiện môi
    trường kinh doanh. Đây vừa là nhiệm vụ chúng
    ta xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế-
    xã hội 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch 5 năm
    2006-2010, vừa là yêu cầu của việc thực hiện
    các cam kết với WTO. Hai nhiệm vụ cùng được
    tiến hành theo cùng một hướng sẽ thúc đẩy
  6. chúng ta thực hiện tốt hơn, tạo được thể ch ế
    kinh tế và môi trường kinh doanh vừa phù hợp
    với yêu cầu phát triển của mình, vừa đáp ứng
    yêu cầu hội nhập quốc tế.
    - Cấu trúc lại nền kinh tế về các mặt cơ cấu
    ngành, sản phẩm, thị trường, các khu vực doanh
    nghiệp theo hướng phát huy lợi thế so sánh, tạo
    lợi thế mới. Trên cơ sở những cơ hội mới ở các
    thị trường bên ngoài và bối cảnh mới về mở
    cửa thị trường trong nước, đây là cơ hội để
    chúng ta rà soát, điều chỉnh lại các chiến lược
    phát triển của mình, cấu trúc lại nền kinh tế,
    phân bổ lại các nguồn lực để tăng tính hiệu quả
    và cạnh tranh của nền kinh tế.
    - Phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy các
    ngành công nghệ cao, phát triển doanh nghiệp,
    tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân
    thông qua việc nắm bắt, khai thác các cơ hội thị
    trường và quan hệ hợp tác kinh tế mới ở trong
    và ngoài nước.
    Về thách thức, chúng ta sẽ phải đương đầu với
    những thách thức nặng nề, chủ yếu do cạnh
    tranh tăng lên ở ngay thị trường trong nước khi
    chúng ta thực hiện những cam kết mở cửa thị
    trường của mình với WTO, do những năng lực
    còn hạn chế trong nội bộ nền kinh tế, do yêu
    cầu tuân thủ hệ thống các quy định của WTO,
    do sự gắn chặt hơn nền kinh tế nước nhà với
    thị trường quốc tế đầy cạnh tranh và nhiều
    biến động.
    3. Môi trường văn hóa
    .
    4. Môi trường pháp luật chính trị
  7. Việc gia nhập WTO có ảnh hưởng đến nhiều
    mặt của pháp luật nước ta. Trong đó, có thể kể
    đến một số mặt sau:
    a, Pháp luật lao động.
    WTO cho phép các nước thành viên can thiệp
    vào quá trình trao đổi hàng hoá nhằm mục đích
    bảo vệ sức khoẻ của con người và động vật
    hoặc bảo tồn các loài thực vật, nhưng với điều
    kiện là nước đó không được phân biệt đối xử
    và không được lạm dụng bảo hộ trá hình. Theo
    đánh giá của các chuyên gia nước ngoài thì pháp
    luật lao động Việt Nam hiện nay không có bất
    kỳ chính sách nào bị liệt vào dạng chính sách trợ
    cấp đèn đỏ. Đó là những trợ cấp bị cấm trong
    WTO. Chúng ta cũng không có những trợ cấp
    đèn vàng là những trợ cấp mà phía đối tác có
    thể đưa ra những biện pháp đối kháng. Việt
    Nam chỉ có những chính sách và chương trình
    xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho những
    đối tượng và những vùng khó khăn. Đây đều là
    những trợ cấp mang tính xã hội, không mang
    tính chất kinh tế nên 3 được coi là trợ cấp
    thuộc nhóm đèn xanh và được phép áp dụng
    trong WTO nên Việt Nam không phải chỉnh sửa
    về vấn đề này. Vấn đề đầu tiên mà pháp luật
    lao động cần quan tâm chính là phải xử lý vấn
    đề tiêu chuẩn lao động. Những tiêu chuẩn lao
    động không nằm trong cam kết của WTO cũng
    như trong những cam kết thương mại song
    phương, đa phương nhưng do lao động là một
    yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nên tiêu
    chuẩn lao động luôn đi cùng thương mại quốc
    tế và được các nước quan tâm. Về những tiêu
    chuẩn lao động trong WTO thì Hội nghị Bộ
    trưởng Singapore 1996 đã khẳng định Tổ chức
    lao động quốc tế (ILO) là tổ chức có thẩm
    quyền xây dựng các tiêu chuẩn về lao động.
    Nhưng WTO phản đối việc sử dụng các tiêu
    chuẩn lao
  8. động nhằm mục tiêu bảo hộ. Các tiêu chuẩn lao
    động quốc tế với mục đích là để xây dựng một
    môi trường làm việc lành mạnh hơn, có lợi hơn
    cho người lao động. Tuy nhiên việc thực hiện
    các tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi nhất định về
    những điều kiện kinh tế, xã hội. Trước đây,
    trong hệ thống thương mại đa phương WTO,
    các nước phát triển muốn đưa những tiêu chuẩn
    lao động riêng biệt vào trong khuôn khổ WTO
    đã gặp phải những phản ứng của các nước
    đang phát triển (vốn chiếm đa số trong WTO) vì
    cho rằng việc tuân thủ những tiêu chuẩn lao
    động làm tăng chi phí tiền lương và làm ảnh
    hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của đất
    nước. Và theo tuyên bố chung tại Hội nghị Bộ
    trưởng WTO năm 1996 tại Singapore, các Bộ
    trưởng đã thống nhất các vấn đề về tiêu chuẩn
    lao động thuộc phạm vi điều chỉnh của Tổ chức
    lao động quốc tế (ILO). Nghĩa là, WTO sẽ
    không quy định trực tiếp về các tiêu chuẩn lao
    động. Sau này, trong Hiệp định thương mại tự
    do bắc Mỹ được bổ sung với một Hiệp định về
    lao động trong đó có đề cập đến những nguyên
    tắc về lao động mà sau này được coi là tiêu
    chuẩn lao động của WTO: Các nước thành viên
    thống nhất tuân thủ và tăng cường các tiêu
    chuẩn về lao động được xây dựng trên 12
    nguyên tắc chung về lao động. Trong đó có 4
    nguyên tắc của ILO (quyền công đoàn, tổ chức
    công đoàn; thương lượng tập thể; không lao
    động cưỡng bức và không lợi dụng lao động trẻ
    em) và 8 nguyên tắc khác (quyền được đình
    công; tiêu chuẩn
    tối thiểu về lương làm ngoài giờ; xoá bỏ phân
    biệt sắc tộc; bình đẳng nam nữ; bồi thường tai
    nạn lao động; tiêu chuẩn làm việc tối thiểu;
    bảo hộ lao động; lương tối thiểu)
    Trước mắt, pháp luật lao động cần tập trung
    vào hai vấn đề lương tối thiểu và tự donghiệp
    đoàn.
  9. *Lương tối thiểu
    Hiện nay pháp luật lao động Việt Nam quy định
    nhiều mức lương tối thiểu khác nhau. Lương
    tối thiểu của công chức nhà nước, lương tối
    thiểu cho công nhân viên doanh nghiệp có vốn
    đầu tư nước ngoài. Điều này rõ ràng đã thể
    hiện sự phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp
    có vốn đầu tư nước ngoài, vi phạm điều khoản
    về “quyền công dân kinh doanh” của WTO.
    Việc khống chế mức lương trong doanh nghiệp
    nhà nước, quy định về thang bảng lương cũng
    thể hiện sự bảo hộ của nhà nước. Điều này là
    không phù hợp khi Việt Nam tham gia WTO.
    Việt Nam hiện nay chưa có chính sách lương
    tối thiểu giống nhau cho toàn nền kinh tế và
    cũng chưa cam kết thực hiện quy ước này của
    ILO. Theo ông 4 Nguyễn Hữu Dũng, Viện
    trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội thì
    chính sách tiền lương của Việt Nam khi gia
    nhập WTO phải giải quyết 2 vấn đề quan
    trọng: thứ nhất, tiền lương phải theo định
    hướng thị trường, nghĩa là lương phải đủ cho
    người lao động sống, phụ thuộc vào quan hệ
    cung cầu trên thị trường lao động và phải dựa
    trên sự thoả thuận, đối thoại qua thoả ước tập
    thể. Thứ hai là, không được vi phạm nguyên tắc
    phân biệt đối xử về tiền lương, cần tháo bỏ
    quy định gò bó thang bảng lương trong doanh
    nghiệp nhà nước hiện nay. Theo lộ trình đến
    2010 mới sáp nhập lương tối thiểu giữa doanh
    nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh
    nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân. Tuy
    nhiên, việc thực hiện thống nhất một mức
    lương tối thiểu đối với Việt Nam còn gặp
    nhiều khó khăn. Tiền lương tối thiểu của Việt
    Nam có quá nhiều ràng buộc với hệ thống an
    sinh, là cơ sở để điều chỉnh lương hưu, trợ cấp,
    bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc. Chính vì
    vậy việc thống nhất một mức lương tối thiểu
    cao như ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư
  10. nước ngoài sẽ là một gánh nặng cho ngân sách
    nhà nước. Ở các nước, lương tối thiểu gắn với
    lạm phát và thường được điều chỉnh kịp thời
    cho phù hợp với chỉ số giá sinh hoạt. Trước tình
    hình đó, Việt Nam định hướng sẽ cải cách tiền
    lương theo hướng giảm dần các yếu tố can
    thiệp của Nhà nước và tăng cường sự tự chủ
    của các doanh nghiệp trong việc trả lương.
    b, Pháp luật chống bán phá giá và cạnh tranh.
    Chính sách và pháp luật về cạnh tranh, chống
    bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ cũng là nền
    tảng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
    cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và đông đảo
    người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh
    tế quốc tế, nhất là thực thi các cam kết gia
    nhập WTO của Việt Nam trong việc mở cửa thị
    trường cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư
    nước ngoài, bước vào sân chơi chung toàn cầu.
    Trong quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh, các
    Pháp lệnh Chống bán phá giá, Pháp lệnh Ch ống
    trợ cấp và Pháp lệnh Tự vệ, cùng các văn bản
    hướng dẫn thi hành, Bộ Thương mại đã nhận
    sự quan tâm và tham gia góp ý của các bộ,
    ngành quản lý nhà nước, các hiệp hội ngành
    hàng, các chuyên gia từ các trung tâm giảng dạy
    nghiên cứu pháp luật, các hãng luật trong nước
    và ngoài nước và toàn thể cộng đồng doanh
    nghiệp. Sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan nhà
    nước và đông đảo các tầng lớp xã hội chính là
    chìa khóa cho thành công trong công tác xây
    dựng pháp luật, bảo đảm đưa pháp luật đi vào
    đời sống, thật sự phát huy được tác dụng và
    hiệu quả. Tuy nhiên, việc xây dựng và ban hành
    Luật Cạnh tranh, các Pháp lệnh đã khó, việc
    thực thi hiệu quả để Luật Cạnh tranh đi vào
    cuộc sống còn khó hơn nhiều, cần có sự nỗ lực
    từ cả hai phía là các cơ quan nhà nước và cộng
    đồng doanh nghiệp.
    Về phía Chính phủ và các bộ, ngành, cần triển
    khai những biện pháp đồng bộ sau:
  11. -Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền, nâng cao
    nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước,
    cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng
    và đông đảo người tiêu dùng về tầm quan trọng
    và các yêu cầu thực thi Luật Cạnh tranh; các
    Pháp lệnh Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và
    Tự vệ trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh
    tế quốc tế thông qua quy chế thành viên WTO.
    -Hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành
    về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp
    và tự vệ và các quy định khác theo hướng nhất
    quán, phù hợp, không ảnh hưởng môi trường
    cạnh tranh, không ngăn cản các hoạt động kinh
    doanh hợp pháp của doanh nghiệp.
    -Kiện toàn cơ cấu tổ chức và đào tạo nguồn
    nhân lực cho các cơ quan thực thi pháp luật...
    Tại nhiều thành viên của WTO, số lượng người
    trong các cơ quan chịu trách nhiệm điều tra
    những vụ việc này lên đến con số hàng trăm
    người (Hoa Kỳ, Canada, Ấn Ðộ...) trong khi ở
    nước ta mới chỉ có hơn 20 người. Với công
    việc còn mới mẻ, đội ngũ nhân sự của Cục
    Quản lý cạnh tranh chưa có nhiều kinh nghiệm
    để xử lý và điều tra các vụ việc phức tạp và
    kéo dài như các cuộc điều tra cạnh tranh, chống
    bán phá giá, trợ cấp và tự vệ. Vì vậy, cần sớm
    có chính sách nâng cao năng lực và tăng cường
    nguồn nhân lực cho Cục để hình thành một đội
    ngũ cán bộ chuyên môn hóa về xử lý các vụ
    việc về cạnh tranh chống bán phá giá, chống
    trợ cấp và tự vệ.
    -Xây dựng cơ chế phối hợp công tác giữa Bộ
    Thương mại và các cơ quan ngành, đặc biệt các
    ngành có cam kết mở cửa khi gia nhập WTO.
    Trong quá trình thực thi pháp luật về cạnh
    tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự
    vệ, cơ quan điều tra cần có sự phối hợp chặt
    chẽ với các bộ trực tiếp quản lý sản xuất để
  12. làm rõ hơn về ngành sản xuất, thực trạng cạnh
    tranh, các vấn đề mang tính chất chuyên môn,
    thông lệ kinh doanh của các doanh nghiệp trong
    ngành.
    -Việc đào tạo nâng cao năng lực về các biện
    pháp chống phá giá, chống trợ cấp và tự vệ cho
    đội ngũ cán bộ làm công tác này là hết sức cần
    thiết và cấp bách, góp phần tăng cường sự hợp
    tác và hỗ trợ của các bộ, ngành trong việc thi
    hành các quy định pháp luật liên quan.
    -Ðối với các địa phương, cần xây dựng phương
    án, kế hoạch khả thi nhằm nâng cao năng lực
    cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương,
    phát huy thế mạnh sẵn có, vượt qua những
    thách thức. Các cơ quan, đơn vị tại địa phương
    cũng cần tránh ý thức cục bộ, địa phương chủ
    nghĩa, đưa ra các chủ trương, chính sách thiên vị
    làm suy yếu sức cạnh tranh của các doanh
    nghiệp địa phương, tổn hại đến môi trường
    kinh doanh chung và trái với những cam kết của
    Việt Nam khi gia nhập WTO.
    -Ðối với cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp
    hội ngành hàng:
    Việc tìm hiểu và tiếp thu tốt các nội dung và
    định hướng cơ bản của Luật Cạnh tranh, Pháp
    lệnh Chống bán phá giá, Pháp lệnh Chống trợ
    cấp và Pháp lệnh Tự vệ cùng các văn bản
    hướng dẫn thi hành sẽ giúp doanh nghiệp nâng
    cao chuẩn mực và chất lượng hoạt động của
    mình. Mặc dù ngăn cấm và xử lý vi phạm trong
    lĩnh vực cạnh tranh, nhưng các văn bản pháp
    luật này có nhiệm vụ chính là hướng dẫn doanh
    nghiệp cách hành xử đúng đắn trong nền kinh
    tế thị trường hiện đại. Cạnh tranh lành mạnh
    trong khuôn khổ pháp luật sẽ giúp doanh nghiệp
    lớn mạnh và bảo đảm sự phát triển bền vững
    của nền kinh tế nói chung.
    Doanh nghiệp cần nhận thức được đầy đủ và
    tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu cạnh tranh lành
    mạnh không chỉ trong nước mà còn tại các thị
  13. trường thành viên của WTO, do nguy cơ các vụ
    kiện thương mại quốc tế ngày càng gia tăng.
    Cần có những đầu tư nghiêm túc cho các hoạt
    động nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương
    mại, tư vấn pháp lý... nhằm giảm thiểu những
    rủi ro cho doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu
    của Việt Nam, nhất là trước những cơ chế
    phức tạp mà các thành viên khác trong WTO
    dựng lên thông qua các quy định về chống bán
    phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, nhằm bảo hộ
    cho sản xuất nội địa kém cạnh tranh của họ.
    Luật Cạnh tranh và các Pháp lệnh đã cung cấp
    những công cụ pháp lý cần thiết giúp doanh
    nghiệp có thể tự bảo vệ mình trước hoạt động
    trái pháp luật của các đối thủ cạnh tranh trong
    nước cũng như ngoài nước. Các doanh nghiệp
    cần sử dụng tốt các công cụ đó để yêu cầu sự
    can thiệp của công quyền, bảo đảm quyền và
    lợi ích chính đáng của mình trên thương trường.
    Chỉ có doanh nghiệp mới có thể bảo vệ tốt
    nhất cho chính bản thân mình.
    Cần tăng cường liên kết, phối hợp giữa các
    doanh nghiệp với nhau, giữa các doanh nghiệp
    với hiệp hội ngành hàng và cơ quan quản lý
    Nhà nước. Do khả năng phối hợp các doanh
    nghiệp trong số nhiều ngành công nghiệp của
    Việt Nam là chưa cao; các hiệp hội ngành hàng
    chưa phát huy được vai trò dẫn dắt các doanh
    nghiệp kinh doanh lành mạnh, đúng pháp luật.
    Việc tăng cường liên kết, phối hợp có ý nghĩa
    quan trọng để có thể giúp các tổ chức, cá nhân
    nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng các biện pháp
    chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ cần
    đáp ứng yêu cầu về tư cách đại diện cho ngành
    sản xuất trong nước.
    Ðể điều tra một vụ việc chống bán phá giá,
    chống trợ cấp và tự vệ, pháp luật chống bán
    phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đã đưa ra quy
    định về "tư cách khởi kiện" của ngành sản xuất
  14. nội địa Việt Nam. Theo quy định này, bên khởi
    kiện phải đại diện cho ít nhất 25% khối lượng,
    trị giá hàng hóa sản xuất trong nước và số nhà
    sản xuất ủng hộ vụ kiện phải lớn hơn số nhà
    sản xuất chống lại vụ kiện.
    Ðiều đó đã đặt ra một yêu cầu là phải có sự
    hợp tác, thống nhất hành động của các nhà sản
    xuất trong nước ủng hộ đơn kiện yêu cầu điều
    tra để áp dụng các biện pháp nêu trên. Việc đáp
    ứng đầy đủ, chính xác các điều kiện theo luật
    định là một thách thức không nhỏ đối với các
    doanh nghiệp nước ta.
    Các doanh nghiệp và hiệp hội cũng cần hợp tác
    chặt chẽ với cơ quan quản lý cạnh tranh Nhà
    nước trong việc nâng cao nhận thức cho cộng
    đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng
    về pháp luật và chính sách về cạnh tranh, chống
    bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, tích cực
    phòng chống các vi phạm pháp luật nhằm xây
    dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh và cơ
    chế kinh tế thị trường phát triển bền vững.
    Cạnh tranh là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam,
    do đó mặc dù đã có những nỗ lực rất lớn công
    tác soạn thảo, các văn bản pháp luật về cạnh
    tranh không thể tránh khỏi những bất cập.
    Trong quá trình thực thi, rất cần cộng đồng
    doanh nghiệp có những kiến nghị, góp ý bổ
    sung hoàn thiện các quy định pháp luật. Bộ
    Thương mại hết sức hoan nghênh và sẵn sàng
    tiếp thu, sửa đổi kịp thời trong khả năng cho
    phép.
    c, Pháp luật về dịch vụ ngân hàng- tiền tệ
    Để thực thi các cam kết trong Hiệp định
    thương mại Việt - Mỹ và chuẩn bị cho gia nhập
    WTO, trong thời gian qua hệ thống pháp luật về
    ngân hàng của Việt Nam đã có những thay đổi
    cơ bản. Các văn bản pháp luật cơ bản về tiền
    tệ, ngân hàng được hoàn thiện, như: Luật sửa
    đổi, bổ sung một số điều Luật Ngân hàng nhà
  15. nước Việt Nam ngày 17/6/2003; Luật sửa đổi
    bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng
    ngày 15/6/2004; Luật các công cụ chuyển
    nhượng ngày 29/11/2005; Pháp lệnh Ngoại hối
    của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày
    13/12/2005; Nghị định số 22/2006/NĐ-CP của
    Chính phủ ngày 28 tháng 2 năm 2006 về tổ
    chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng
    nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng
    100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ
    chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam; Nghị
    định số 74/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày
    07/6/2005 về phòng, chống rửa tiền... Như vậy,
    nếu đối chiếu với các cam kết của Việt Nam
    trong Phụ lục Biểu Cam kết cụ thể đối với
    thương mại dịch vụ (tài liệu
    WT/ACC/VNM/48/Add.2) kèm Nghị định thư
    về việc gia nhập WTO, với pháp luật Việt Nam
    hiện hành có thể nhận thấy những tương thích
    cơ bản.
    Tuy nhiên, những thành tựu lập pháp nói
    trên chỉ là khởi động của một quá trình, để dịch
    vụ tiền tệ ngân hàng phát triển bền vững trong
    sau hội nhập, những thay đổi trên là chưa
    đủ.Những nội dung sau đây cũng không kém
    phần quan trọng song chưa được chú trọng một
    cách đúng mức:
    Thứ nhất: Các văn bản pháp luật liên
    quan lĩnh vực giao dịch có bảo đảm (thế chấp,
    cầm cố, bảo lãnh); pháp luật về công chứng;
    pháp luật về đăng ký giao dịch có bảo đảm;
    pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm…phải được
    sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp trong điều kiện
    mới.
    Thứ hai: Các qui định cấp giấy phép
    thành lập và hoạt động cho các ngân hàng, các
    tổ chức tín dụng phi ngân hàng và giấy phép
    hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác chưa
    cụ thể. Hiện tại, theo quy định của Luật các
  16. TCTD, một trong những điều kiện bắt buộc để
    được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét
    cấp phép là “có nhu cầu hoạt động ngân hàng
    trên địa bàn”. Thiết nghĩ, phải nhanh chóng xoá
    bỏ các điều kiện mang tính định tính trong nhóm
    các điều kiện tiếp cận thị trường. Thay vào đó,
    các điều kiện như tỷ lệ vốn an toàn, khả năng
    thanh toán và trình độ quản trị ngân hàng sẽ
    được bổ sung vào nhóm các điều kiện cấp
    phép. Những bổ sung này đảm bảo phù hợp
    với tinh thần các cam kết, vừa trong khuôn khổ
    “biện pháp thận trọng” được phép ghi nhận
    trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ,
    nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chính - tiền
    tệ quốc gia.
    Thứ ba: Muốn nâng cao khả năng cạnh
    tranh của các ngân hàng Việt Nam cần thiết
    phân định rạch ròi hơn nữa chức năng của các
    ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách
    xã hội. Những ngân hàng thương mại dù là ngân
    hàng thương mại nhà nước phải được trao
    quyền tự chủ trong kinh doanh, được “giải
    phóng” khỏi sự can thiệp hành chính. Việc xoá
    bỏ những ưu đãi, bảo hộ của nhà nước đối với
    các ngân hàng thương mại nhà nước phải tiến
    hành đồng thời với việc xoá bỏ các biện pháp
    can thiệp mang tính hành chính. Ví dụ: khoản 2
    Điều 3 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về các
    biện pháp bảo đảm tiền vay cho phép Chính
    phủ chỉ định ngân hàng thương mại nhà nước
    cho vay một số đối tượng không có tài sản bảo
    đảm. Các qui định tương tự vẫn tồn tại trong
    các văn bản pháp luật hiện hành như một gánh
    nặng cho các ngân hàng thương mại nhà nước.
    Việc thực hiện các chính sách xã hội được đảm
    nhận bởi Ngân hàng chính sách xã hội và ngân
    hàng này phải có một cơ chế pháp lý riêng.
    Thứ tư: Hệ thống pháp luật về thanh tra,
    kiểm tra, kiểm soát đặc biệt trong đối với dịch
  17. vụ tiền tệ - ngân hàng chưa đồng bộ. Những
    qui định pháp luật về cạnh tranh trong Luật
    cạnh tranh ngày 03/12/2004 (có hiệu lực từ
    01/7/2005) cho dù được đánh giá cao song để áp
    dụng trong lĩnh vực dịch vụ tiền tệ - ngân hàng
    cần thiết phải có những văn bản hướng dẫn cụ
    thể và phải tính đến những yếu tố đặc thù
    trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng. Tình trạng
    tương tự cũng thể hiện ở pháp luật phá sản.
    Thứ năm: Vai trò của Ngân hàng trung
    ương (Ngân hàng nhà nước Việt Nam) trong
    điều kiện hội nhập còn mờ nhạt do những trói
    buộc trong Luật NHNNVN. Trong điều kiện
    hội nhập với cộng đồng tài chính- tiền tệ thế
    giới, vị thế và vai trò của Ngân hàng trung ương
    phải được củng cố. Với địa vị pháp lý và chế
    độ tài chính hiện hành, Ngân hàng nhà nước
    Việt Nam khó có thể thực thi một cách hiệu
    quả và linh hoạt chính sách tiền tệ để ngăn
    chặn những thảm hoạ tài chính- tiền tệ cũng
    như quản lý một cách hữu hiệu hoạt động ngân
    hàng được dự đoán là rất sôi động và cạnh
    tranh khốc liệt giữa các nhà cung cấp dịch vụ
    này trong tương lai.
    5. Môi trường khoa học và công nghệ
    Điện tử - viễn thông là hai trong số những
    ngành được coi là mũi nhọn và chịu nhiều tác
    động sau sự kiện này. Sự cạnh tranh diễn ra khá
    quyết liệt trên hai thị trường điện tử và viễn
    thông đã khiến ngành đứng trước rất nhiều
    những khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, không
    phải là không có những cơ hội được mở ra...
    Hội thảo đã thu hút đông đảo đại biểu và giới
    báo chí tham dự. Ảnh: Thuỷ Nguyên
  18. Quan điểm này đã được nhiều đại biểu, chuyên
    gia trong lĩnh vực điện tử - viễn thông chia sẻ
    tại buổi hội thảo với chủ đề "Hội nhập Kinh tế
    Quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với ngành
    Điện tử - Viễn thông Việt Nam" vừa diễn ra
    hôm qua, 25/12 tại Hà Nội. Hội thảo nằm trong
    khuôn khổ chương trình "Đánh giá tác động hội
    nhập sau hai năm gia nhập WTO đối với nền
    kinh tế Việt Nam và tôn vinh các doanh nghiệp
    Việt Nam tiêu biểu".
    Cơ hội nhiều...
    Theo đại diện của Vụ Xuất nhập khẩu Bộ
    Công Thương, tốc độ tăng trưởng của ngành
    công nghiệp điện tử Việt Nam hàng năm
    khoảng 20-30%. Từ những lắp ráp đơn giản,
    Việt Nam đã phát triển từng bước và bước đầu
    sản xuất phụ tùng, linh kiện xuất khẩu cũng
    như nghiên cứu thiết kế được một số sản
    phẩm thương hiệu Việt được bạn hàng quốc tế
    tin dùng. Về cơ bản, các sản phẩm điện tử và
    công nghệ đã thoả mãn được nhu cầu của thị
    trường nội địa và phát triển xuất khẩu. Doanh
    số thị trường nội địa đạt 1,6 tỷ USD năm 2005,
    và năm 2006 đã đạt hơn 2 tỷ USD.
    Việc Việt Nam gia nhập WTO đã mang lại cho
    ngành công nghiệp điện tử những cơ hội lớn
    như tăng cường khả năng thâm nhập và thúc
    đẩy xuất khẩu do thị trường thế giới và khu
    vực được mở rộng và vị thế cạnh tranh bình
    đẳng hơn. Môi trường kinh doanh và đầu tư của
    ngành cũng đã được cải thiện, hành lang pháp lý
    minh bạch dẫn đến sức cạnh tranh lành mạnh
    hơn, không phân biệt đối xử giữa các thành
    phần kinh tế.
    Cũng từ khi Việt Nam gia nhập WTO, cơ hội
    tiếp cận tín dụng, công nghệ mới, thông tin thị
  19. trường thế giới, khu vực, các dịch vụ, cung cấp
    vật tư... của ngành tốt hơn. Ngành điện tử có
    cơ hội xây dựng lại chiến lược phát triển sản
    xuất kinh doanh phù hợp với tình hình mới, các
    tranh chấp thương mại quốc tế được giải
    quyết công bằng và minh bạch hơn.
    Còn với ngành viễn thông, theo tiến sĩ Trịnh
    Minh Anh, Phó Vụ trưởng - Phó Chánh văn
    phòng Uỷ ban quốc gia Hợp tác kinh tế quốc tế,
    hai năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO,
    những tác động mang tính tích cực ảnh hưởng
    tới ngành đó là thị trường viễn thông Việt Nam
    đã có tốc độ tăng trưởng được xếp vào hàng
    nhanh nhất thế giới. Cạnh tranh sôi động nhất
    đang diễn ra trên thị trường thông tin di động
    giữa các nhà cung cấp dịch vụ VinaPhone,
    MobiFone, Viettel, EVN Telecom, SFone... đã
    thúc đẩy thị trường đạt mức tăng trưởng nhanh.
    Mới đây, trong bảng xếp hạng phát triển viễn
    thông Châu Á, thị trường viễn thông Việt Nam
    đã được xếp thứ 13 về cả quy mô và tốc độ
    phát triển trên ba lĩnh vực cố định, di động và
    Internet.
    Chia sẻ quan điểm tại hội thảo, ông Bùi Quốc
    Việt, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Quan
    hệ công chúng thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn
    thông Việt Nam cho rằng, hội nhập WTO, các
    doanh nghiệp viễn thông trong nước có nhiều
    cơ hội kinh doanh mới, cơ hội đầu tư trang bị
    thiết bị công nghệ mới, hiện đại, tiết kiệm
    được vốn đầu tư và hiệu quả kinh tế.
    Hội nhập, viễn thông Việt Nam thu hút được
    nguồn vốn và kinh nghiệm quản lý từ các nhà
    khai thác nước ngoài thông qua việc hợp tác với
    các nhà khai thác lớn trên thế giới để phát triển,
    hiện đại hoá mạng lưới và cung cấp dịch vụ,
    đồng thời cơ hội từng bước thâm nhập ra thị
  20. trường khu vực và trên thế giới. Cạnh tranh
    giữa các doanh nghiệp, tạo động lực phát triển
    cho từng doanh nghiệp và cho cả ngành viễn
    thông và CNTT Việt Nam. Cạnh tranh phát triển
    tạo cơ hội cho các doanh nghiệp viễn thông
    trong nước tự đổi mới và tái cơ cấu để hoạt
    động có hiệu quả, cải cách quy trình quản lý,
    khai thác, tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực
    mang tính chiến lược, nâng cao chất lượng dịch
    vụ và chất lượng chăm sóc khách hàng.
    Tuy nhiên, với lộ trình mở cửa thị trường lĩnh
    vực viễn thông trong cam kết gia nhập WTO
    của Việt Nam, cho tới thời điểm này, các doanh
    nghiệp viễn thông Việt Nam vẫn chưa thực sự
    phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt với các
    doanh nghiệp viễn thông nước ngoài. "Hiện
    cạnh tranh trong nước chính là bước tập dượt
    cho cạnh tranh nước ngoài và là giai đoạn quan
    trọng để các doanh nghiệp viễn thông Việt
    Nam từng bước tích tụ các nguồn lực, nâng cao
    năng lực cạnh tranh, vượt qua các rào cản, thách
    thức và chủ động đón bắt các vận hội của hội
    nhập kinh tế quốc tế" - ông Việt nói.
    Và thách thức cũng lắm
    Quả thực, khi kinh tế phát triển, nhu cầu thị
    trường về các dịch vụ bưu chính, viễn thông và
    CNTT tăng trưởng mạnh, thị trường tiềm năng
    để phát triển các dịch vụ mới rất lớn đã tạo cơ
    hội để các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ bưu
    chính, viễn thông, CNTT phát triển các hoạt
    động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, theo ông
    Bùi Quốc Việt, trong những năm qua, thị trường
    viễn thông di động Việt Nam luôn duy trì mức
    tăng trưởng 160-170%ăm và được coi là thị
    trường đầy tiềm năng, thu hút sự chú ý của
    không ít các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là
    khi Việt Nam gia nhập WTO.

Đề tài thuyết trình môn Quản trị học " Môi trường quản trị "

Tại sao cần nghiên cứu môi trường quản trị?Biết được môi trường quản trị và phân biệt được môi trường vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đến tổ chức.
Hiểu được những yếu tố môi trường vĩ mô và vi mô ảnh hưởng như thế nào đến các tổ chức. » Xem thêm

Nắm bắt được các giải pháp quản trị nhằm hạn chế những bất trắc của các yếu tố môi trường» Thu gọn
Chủ đề:
  • quản trị học
  • môi trường quản trị
  • khái niệm về môi trường quản trị
  • phân loại môi trường quản trị
  • ảnh hưởng của môi trường đối với tổ chức
  • bài tập tình huống
Download
Xem online

Tóm tắt nội dung tài liệu

  1. MÔI TRƯỜNG
    QUẢN TRỊ
    Trình bày : Nhóm 8
  2. TẠI SAO CẦN NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ
    1. Biết được môi trường quản trị và phân
    biệt được môi trường vĩ mô và vi mô
    ảnh hưởng đến tổ chức.
    2. Hiểu được những yếu tố môi trường vĩ
    mô và vi mô ảnh hưởng như thế nào
    đến các tổ chức.
    3. Nắm bắt được các giải pháp quản trị
    nhằm hạn chế những bất trắc của các
    yếu tố môi trường.
  3. NỘI DUNG TRÌNH BÀY
    • Khái niệm về Môi trường Quản trị
    • Phân loại Môi trường Quản trị
    • Ảnh hưởng của môi trường đối với tổ
    chức
    • Các giải pháp Quản trị bất trắc của yếu
    tố môi trường
    • Bài tập tình huống
  4. KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ
    Danh từ Môi trường (environment) là tập hợp
    của các lực lượng và yếu tố nằm bên ngoài
    hệ thống quản trị nhưng lại có ảnh hưởng
    trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động
    về quản trị trong mỗi tổ chức.
  5. KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ
    Theo quan điểm vạn năng (Omnipotent
    view – Nhà quản trị là tất cả) thì các nhà
    quản trị chịu trách nhiệm trực tiếp về sự
    thành công hay thất bại của tổ chức. Đó là
    quan niệm “Nhà quản trị giỏi có thể biến
    rơm thành vàng. Nhà quản trị tồi thì làm
    ngược lại”.
  6. KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ
    Theo Robbins, quan điểm biểu tượng
    (Symbolic view – Nhà quản trị chỉ là biểu
    tượng) thì nhà quản trị có một ảnh hưởng
    giới hạn đến kết quả hoạt động của tổ
    chức vì ở đó có nhiều yếu tố bên ngoài ảnh
    hưởng đến tổ chức, của cấp quản trị.
  7. PHÂN LOẠI
    Tùy theo các góc độ tiếp cận khác nhau,
    người ta có thể phân môi trường quản trị ra
    thành nhiều loại, Môi trường quản trị là sự
    tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố và lực
    lượng bên ngoài hệ thống quản trị nhưng
    lại có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp
    đến hoạt động quản trị cuả một tổ chức.
    Các yếu tố đó được hình thành theo ba
    nhóm :
  8. PHÂN LOẠI
    2.1 NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    • Các yếu tố kinh tế vĩ mô.
    • Các yếu tố xã hội
    • Các yếu tố văn hóa
    • Các yếu tố về nhân khẩu, dân số
    • Các yếu tố thuộc về hệ thống chính trị, sự
    lãnh đạo và quản lý nhà nước
    • Các yếu tố công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ
    thuật
    • Các yếu tố quốc tế
    • Các yếu tố thiên nhiên
  9. PHÂN LOẠI
    2.2 NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VI MÔ
    • Nhóm các nhà cung ứng.
    • Nhóm khách hàng.
    • Nhóm đối thủ cạnh tranh.
    • Nhóm những người môi giới trung gian
    • Nhóm các giới chức có quan hệ trực tiếp.
    • Các yếu tố môi trường nội bộ.
  10. PHÂN LOẠI
    2.3 NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ
    • Các yếu tố thuộc về tài sản
    • Các yếu tố thuộc về nhân sự
    • Các yếu tố thuộc về cơ sở vẫt chất
    • Các yếu tố thuộc về văn hoá tổ chức
  11. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI TỔ CHỨC
    Các nhóm nói trên luôn tác động qua lại lẫn nhau tạo ra
    mội trường quản trị của một tổ chức. Quản trị gia phải
    nhận thức đầy đủ, chính xác các yếu tố môi trường để
    sọan thảo chiến lược và sách lược cho đúng giúp tổ chức
    tồn tại và phát triển.
    Phân tích ảnh hưởng cuả môi trường quản trị là một vấn
    đề hết sức rộng lớn và phức tạp, ở đây chỉ đề cập và
    phân tích ảnh hưởng chủ yếu caủ một số yếu tố đến các
    hoạt động quản trị
  12. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    1.Cácyếutốmôitrườngkinhtếvĩmô
    - Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
    - Yếu tố lạm phát
    - Tỉ giá hối đóai và lãi suất
    - Tiền lương và thu nhập
    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
    GDP tác động đến nhu cầu của gia đình, doanh nghiệp, nhà nước.
    GDP tác động đến tất cả các mặt hoạt động quản trị như: hoạch
    định, lãnh đạo, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định
  13. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    1.Cácyếutốmôitrườngkinhtếvĩmô
    - Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
    - Yếu tố lạm phát
    - Tỉ giá hối đóai và lãi suất
    - Tiền lương và thu nhập
    Yếu tố lạm phát
    Ảnh hưởng tới việc họach định chiến lược và sách lược kinh doanh.
    Việc dự đoán chính xác yếu tố là rất quan trọng trong chiến lược
    sản xuất kinh doanh
  14. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    1.Cácyếutốmôitrườngkinhtếvĩmô
    - Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
    - Yếu tố lạm phát
    - Tỉ giá hối đóai và lãi suất
    - Tiền lương và thu nhập
    Tiền lương và thu nhập
    Tác động tới giá thành và nguồn nhân lực của doanh nghiệp
  15. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    2.Yếutốmôitrườngvănhoá­xãhội
     Dân số
     Lối sống Dân số
     Văn hóa Ảnh hưởng lên nguồn nhân lực, ảnh
    hưởng tới đầu ra của doanh nghiệp
     Gia đình trong việc xác định thị trường mục
     Nghề nghiệp
    tiêu và phân khúc thị trường.
     Tôn giáo
     Tâm lý dân tộc
  16. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    2.Yếutốmôitrườngvănhoá­xãhội
     Dân số
     Lối sống
    Văn hóa
     Văn hóa Tác động và chi phối hành vi ứng xử của
    người tiêu dùng và người quản trị doanh
     Gia đình nghiệp.
     Nghề nghiệp
     Tôn giáo
     Tâm lý dân tộc
  17. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    2.Yếutốmôitrườngvănhoá­xãhội
     Dân số
     Lối sống Nghề nghiệp
     Văn hóa Nghề nghiệp khác nhau sẽ dẫn đến
    những đòi hỏi về phương tiện và công cụ
     Gia đình lao động khác nhau, nhu cầu tiêu dùng vui
     Nghề nghiệp
    chơi giả trí cũng khác nhau.
     Tôn giáo
     Tâm lý dân tộc
  18. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    2.Yếutốmôitrườngvănhoá­xãhội
     Dân số
     Lối sống Tâm lý dân tộc
     Văn hóa Ảnh hưởng tới phong cách của nhà
    quản trị và phong cách tiêu dùng.
     Gia đình
     Nghề nghiệp
     Tôn giáo
     Tâm lý dân tộc
  19. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    2.Yếutốmôitrườngvănhoá­xãhội
     Dân số
     Lối sống Lối sống
     Văn hóa Chúng chi phối đến việc hình thành
    những nhu cầu về chủng loại chất lượng
     Gia đình và kiểu dáng hàng hóa.
     Nghề nghiệp
     Tôn giáo
     Tâm lý dân tộc
  20. NHỮNG NHÓM YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
    2.Yếutốmôitrườngvănhoá­xãhội
     Dân số
     Lối sống
    Gia đình
     Văn hóa
    Ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất chất
     Gia đình lượng hiệu quả làm việc của mọi người.
     Nghề nghiệp
     Tôn giáo
     Tâm lý dân tộc

Vì sao trong hoạt động kinh doanh cần thiết phải nghiên cứu môi trường marketing? Lấy ví dụ cụ thể của sự ảnh hưởng tới mỗi môi trường Marketing vĩ mô khi Việt Nam gia nhập WTO

Bất cứ một doanh nghiệp nào đều tham gia trong một môi trường và đều phụ thộc vào nó. Trong môi trường ấy có những điều kiện thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cũng không hiếm những nguy cơ, thách thức. Vì vậy nghiên cứu môi trường kinh doanh nghiệp nhận thức được đâu là cơ hội, là điều kiện thuận lợi, đâu là thách đố, là nguy cơ, thuận lợi là chủ yếu hay nguy cơ là chủ yếu Từ đó quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình.
Môi trường marketing bao gồm môi trường Marketing vĩ mô và môi trường Marketing vi mô.
-Môi trường marketing vĩ mô bao gồm các yếu tố, các lực lượng mang tinh chất xã hội rộng lớn, chúng có ảnh hưởng đến toàn bộ môi trường marketing vi mô, tất cả các yếu tố của môi trường này người làm marketing không thể kiểm soát được. Vì vậy, họ phải nghiên cứu thật kĩ để tìm cách thích nghi.

Vì sao doanh nghiệp cần phải nghiên cứu môi trường quản trị
25 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/03/2014 | Lượt xem: 15454 | Lượt tải: 3
Vì sao doanh nghiệp cần phải nghiên cứu môi trường quản trị
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vì sao trong hoạt động kinh doanh cần thiết phải nghiên cứu môi trường marketing? Lấy ví dụ cụ thể của sự ảnh hưởng tới mỗi môi trường Marketing vĩ mô khi Việt Nam gia nhập WTO, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bài kiểm tra môn Marketing
Đề bài: Vì sao trong hoạt động kinh doanh cần thiết phải nghiên cứu môi trường marketing? Lấy ví dụ cụ thể của sự ảnh hưởng tới mỗi môi trường Marketing vĩ mô khi Việt Nam gia nhập WTO.
Bài làm
Ι. Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường marketing trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bất cứ một doanh nghiệp nào đều tham gia trong một môi trường và đều phụ thộc vào nó. Trong môi trường ấy có những điều kiện thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cũng không hiếm những nguy cơ, thách thức. Vì vậy nghiên cứu môi trường kinh doanh nghiệp nhận thức được đâu là cơ hội, là điều kiện thuận lợi, đâu là thách đố, là nguy cơ, thuận lợi là chủ yếu hay nguy cơ là chủ yếu…Từ đó quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình.
Môi trường marketing bao gồm môi trường Marketing vĩ mô và môi trường Marketing vi mô.
-Môi trường marketing vĩ mô bao gồm các yếu tố, các lực lượng mang tinh chất xã hội rộng lớn, chúng có ảnh hưởng đến toàn bộ môi trường marketing vi mô, tất cả các yếu tố của môi trường này người làm marketing không thể kiểm soát được. Vì vậy, họ phải nghiên cứu thật kĩ để tìm cách thích nghi. Trong đó:
Nghiên cứu về dân số giúp doanh nghiệp nắm bắt được thị trường của mình, cung ứng những sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng đối tượng khách hàng và biết được sức cầu của công chúng nhằm cung ứng một lượng hàng nhất định.
Nghiên cứu môi trường kinh tế giúp doanh nghiệp nắm được sức mua và cơ cấu chi tiêu của dân cư, từ đó đưa ra kế hoạch sản xuất phù hợp.
Nghiên cứu môi trường văn hóa-xã hội giúp doanh nghiệp hiểu được những phong tục tập quán thói quen, tiêu dùng của từng nhóm dân cư ở các vùng và từ đó cung ứng những sản phẩm và dịch vụ hợp với nền văn hóa của nơi đó.
Nghiên cứu môi trường chính trị và pháp luật: hiểu được những qui định, pháp lý, những quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp sẽ có kế hoạch để tận dụng tối đa những quyền lợi mà pháp luật đem lại đồng thời kinh doanh đúng pháp luật,thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Việc xem xét tình hình chính trị có ổn định hay không tạo điều kiện cho doanh nghiệp có những quyết định đầu tư an toàn nhất.
Nghiên cứu môi trường khoa học và công nghệ: có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tạo ra những cơ hội cũng như những thách thức trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những nhân tố mang tính chất quyết định khi doanh nghiệp cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường.
Nghiên cứu môi trường tự nhiên giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi về nguyên nhiên vật liệu và việc xử lý phụ phẩm.
II. Tác động của việc VN gia nhập WTO tới mỗi môi trường marketing vĩ mô.
1. Môi trường dân số
2. môi trường kinh tế
Phần lớn các chuyên gia kinh tế của chúng ta đều cho rằng những vận hội và thách thức này đan xen nhau, trong vận hội có thách thức, trong thách thức có vận hội. Trong vận hội có thách thức ở chỗ, dù có vận hội to lớn, nhưng nếu ta không có khả năng nhận biết nó, có gan giành lấy nó, có sức nắm bắt, khai thác nó, thì nó sẽ trôi đi hoặc người khác sẽ giành lấy mất.
Những vận hội và thách thức nào đang chờ đón chúng ta khi gia nhập WTO?
Về vận hội, đây là thời cơ mới để chúng ta thúc đẩy việc mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế với các nước khác, tạo vị thế vững chắc hơn trong tham gia phân công lao động quốc tế, đồng thời đẩy mạnh công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế ở trong nước, tạo năng lực cạnh tranh mạnh hơn, đưa nền kinh tế đất nước lên trình độ phát triển cao hơn. Hai mặt này gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau, có thể cùng nhau tạo một bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của nước ta.
Về mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế với các nước, những cơ hội cụ thể của chúng ta là:
- Tận dụng việc các nước mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ của nước ta, dành cho ta quy chế tối huệ quốc (MFN), không phân biệt đối xử để phát triển xuất khẩu, nhập khẩu một cách hiệu quả hơn. Do chưa phải là thành viên WTO, trong những năm qua hàng hoá của chúng ta xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài vẫn bị nhiều rào cản, bị phân biệt đối xử (điển hình nhất là hàng rào hạn ngạch đối với hàng dệt may, những hạn chế về xuất khẩu nông sản...). Những rào cản này khi được dỡ bỏ sẽ mở đường cho nhiều sản phẩm của VN thâm nhập mạnh hơn các thị trường bên ngoài, vừa đáp ứng nhu cầu về “đầu ra” cho nhiều ngành, nhiều sản phẩm và doanh nghiệp, vừa tạo thêm việc làm cho nhiều người lao động, vừa mang lại nguồn ngoại tệ cần thiết cho đất nước. Về nhập khẩu, do thuế giảm và các hàng rào khác được dỡ bỏ, chúng ta có thêm sự lựa chọn để nhập khẩu hiệu quả hơn những sản phẩm cần thiết về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc cung cấp công nghệ, thiết bị, vật tư “đầu vào” phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta; hiệu quả của nhập khẩu vừa góp phần tạo nên hiệu quả của nền kinh tế, vừa mang lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng.
- Tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp hiệu quả hơn các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển. Khi nước ta gia nhập WTO, các cam kết quốc tế của chúng ta sẽ làm các nhà đầu tư nước ngoài thực sự yên tâm về môi trường đầu tư ở nước ta; đồng thời cam kết của các nước khác về mở cửa thị trường cho VN, triển vọng phát triển xuất nhập khẩu và mở rộng thị trường nội địa ở VN cũng tạo nên rất nhiều cơ hội mới cho họ để có thể đầu tư, khai thác thị trường VN về nhiều mặt. Thu hút thêm đầu tư nước ngoài, chúng ta không những có thêm các nguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý tốt hơn, mà còn khai thác hiệu quả hơn những nguồn lực và lợi thế sẵn có trong nước, tăng cường hơn quan hệ hợp tác nhiều mặt với các thị trường bên ngoài.
- Tăng khả năng tham gia phân công lao động quốc tế một cách thuận lợi hơn, giành vị trí ổn định và có thể cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chưa có tư cách thành viên WTO, từ trước tới nay chúng ta tham gia phân công lao động quốc tế với nhiều hạn chế, thường chỉ tập trung vào khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, ít tham gia được vào các khâu khác có giá trị gia tăng cao hơn hẳn như các dịch vụ nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, tiếp thị, phân phối... Ngay trong khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, sự cạnh tranh ngày càng mạnh trên thị trường cũng khiến chúng ta không dễ giữ được vị trí của mình. Gia nhập WTO tạo cho chúng ta vị thế bình đẳng, cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế, tăng niềm tin của các đối tác nước ngoài đối với chúng ta, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chúng ta khai thác, phát triển các năng lực mới của mình để tham gia phân công lao động quốc tế trên trình độ cao hơn, ở các khâu tạo giá trị gia tăng lớn hơn.
- Đỡ phải gánh chịu những vụ khiếu kiện bất công, bất bình đẳng trong quan hệ thương mại với các đối tác do những quy định khá minh bạch, không phân biệt đối xử trong cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế của WTO.
- Tạo vị thế mới cho nước ta trong việc tham gia các vòng đàm phán toàn cầu, khu vực và song phương trong tương lai. Vị trí thành viên WTO cho phép chúng ta chủ động và bình đẳng khi tham gia các vòng đàm phán tiếp theo của WTO, bảo vệ và giành những lợi ích mới cho mình trong những lĩnh vực sẽ được đưa ra đàm phán. Trong các quan hệ ở các tổ chức khu vực cũng như các quan hệ song phương, vị thế của ta cũng bình đẳng hơn. Trên cơ sở này, chúng ta có thể tiến hành những cuộc đàm phán song phương mới nhằm nâng tầm quan hệ kinh tế của ta với các đối tác quan trọng.
Về thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế trong nước, những cơ hội cụ thể của chúng ta là:
- Hoàn thiện thể chế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh. Đây vừa là nhiệm vụ chúng ta xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch 5 năm 2006-2010, vừa là yêu cầu của việc thực hiện các cam kết với WTO. Hai nhiệm vụ cùng được tiến hành theo cùng một hướng sẽ thúc đẩy chúng ta thực hiện tốt hơn, tạo được thể chế kinh tế và môi trường kinh doanh vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của mình, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Cấu trúc lại nền kinh tế về các mặt cơ cấu ngành, sản phẩm, thị trường, các khu vực doanh nghiệp theo hướng phát huy lợi thế so sánh, tạo lợi thế mới. Trên cơ sở những cơ hội mới ở các thị trường bên ngoài và bối cảnh mới về mở cửa thị trường trong nước, đây là cơ hội để chúng ta rà soát, điều chỉnh lại các chiến lược phát triển của mình, cấu trúc lại nền kinh tế, phân bổ lại các nguồn lực để tăng tính hiệu quả và cạnh tranh của nền kinh tế.
- Phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy các ngành công nghệ cao, phát triển doanh nghiệp, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân thông qua việc nắm bắt, khai thác các cơ hội thị trường và quan hệ hợp tác kinh tế mới ở trong và ngoài nước.
Về thách thức, chúng ta sẽ phải đương đầu với những thách thức nặng nề, chủ yếu do cạnh tranh tăng lên ở ngay thị trường trong nước khi chúng ta thực hiện những cam kết mở cửa thị trường của mình với WTO, do những năng lực còn hạn chế trong nội bộ nền kinh tế, do yêu cầu tuân thủ hệ thống các quy định của WTO, do sự gắn chặt hơn nền kinh tế nước nhà với thị trường quốc tế đầy cạnh tranh và nhiều biến động.
3. Môi trường văn hóa
.
4. Môi trường pháp luật chính trị
Việc gia nhập WTO có ảnh hưởng đến nhiều mặt của pháp luật nước ta. Trong đó, có thể kể đến một số mặt sau:
a, Pháp luật lao động.
WTO cho phép các nước thành viên can thiệp vào quá trình trao đổi hàng hoá nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ của con người và động vật hoặc bảo tồn các loài thực vật, nhưng với điều kiện là nước đó không được phân biệt đối xử và không được lạm dụng bảo hộ trá hình. Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài thì pháp luật lao động Việt Nam hiện nay không có bất kỳ chính sách nào bị liệt vào dạng chính sách trợ cấp đèn đỏ. Đó là những trợ cấp bị cấm trong WTO. Chúng ta cũng không có những trợ cấp đèn vàng là những trợ cấp mà phía đối tác có thể đưa ra những biện pháp đối kháng. Việt Nam chỉ có những chính sách và chương trình xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho những đối tượng và những vùng khó khăn. Đây đều là những trợ cấp mang tính xã hội, không mang tính chất kinh tế nên 3 được coi là trợ cấp thuộc nhóm đèn xanh và được phép áp dụng trong WTO nên Việt Nam không phải chỉnh sửa về vấn đề này. Vấn đề đầu tiên mà pháp luật lao động cần quan tâm chính là phải xử lý vấn đề tiêu chuẩn lao động. Những tiêu chuẩn lao động không nằm trong cam kết của WTO cũng như trong những cam kết thương mại song phương, đa phương nhưng do lao động là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nên tiêu chuẩn lao động luôn đi cùng thương mại quốc tế và được các nước quan tâm. Về những tiêu chuẩn lao động trong WTO thì Hội nghị Bộ trưởng Singapore 1996 đã khẳng định Tổ chức lao động quốc tế (ILO) là tổ chức có thẩm quyền xây dựng các tiêu chuẩn về lao động. Nhưng WTO phản đối việc sử dụng các tiêu chuẩn lao
động nhằm mục tiêu bảo hộ. Các tiêu chuẩn lao động quốc tế với mục đích là để xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh hơn, có lợi hơn cho người lao động. Tuy nhiên việc thực hiện các tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi nhất định về những điều kiện kinh tế, xã hội. Trước đây, trong hệ thống thương mại đa phương WTO, các nước phát triển muốn đưa những tiêu chuẩn lao động riêng biệt vào trong khuôn khổ WTO đã gặp phải những phản ứng của các nước đang phát triển (vốn chiếm đa số trong WTO) vì cho rằng việc tuân thủ những tiêu chuẩn lao động làm tăng chi phí tiền lương và làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Và theo tuyên bố chung tại Hội nghị Bộ trưởng WTO năm 1996 tại Singapore, các Bộ trưởng đã thống nhất các vấn đề về tiêu chuẩn lao động thuộc phạm vi điều chỉnh của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). Nghĩa là, WTO sẽ không quy định trực tiếp về các tiêu chuẩn lao động. Sau này, trong Hiệp định thương mại tự do bắc Mỹ được bổ sung với một Hiệp định về lao động trong đó có đề cập đến những nguyên tắc về lao động mà sau này được coi là tiêu chuẩn lao động của WTO: Các nước thành viên thống nhất tuân thủ và tăng cường các tiêu chuẩn về lao động được xây dựng trên 12 nguyên tắc chung về lao động. Trong đó có 4 nguyên tắc của ILO (quyền công đoàn, tổ chức công đoàn; thương lượng tập thể; không lao động cưỡng bức và không lợi dụng lao động trẻ em) và 8 nguyên tắc khác (quyền được đình công; tiêu chuẩn
tối thiểu về lương làm ngoài giờ; xoá bỏ phân biệt sắc tộc; bình đẳng nam nữ; bồi thường tai nạn lao động; tiêu chuẩn làm việc tối thiểu; bảo hộ lao động; lương tối thiểu)
Trước mắt, pháp luật lao động cần tập trung vào hai vấn đề lương tối thiểu và tự donghiệp đoàn.
*Lương tối thiểu
Hiện nay pháp luật lao động Việt Nam quy định nhiều mức lương tối thiểu khác nhau. Lương tối thiểu của công chức nhà nước, lương tối thiểu cho công nhân viên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này rõ ràng đã thể hiện sự phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vi phạm điều khoản về “quyền công dân kinh doanh” của WTO. Việc khống chế mức lương trong doanh nghiệp nhà nước, quy định về thang bảng lương cũng thể hiện sự bảo hộ của nhà nước. Điều này là không phù hợp khi Việt Nam tham gia WTO. Việt Nam hiện nay chưa có chính sách lương tối thiểu giống nhau cho toàn nền kinh tế và cũng chưa cam kết thực hiện quy ước này của ILO. Theo ông 4 Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội thì chính sách tiền lương của Việt Nam khi gia nhập WTO phải giải quyết 2 vấn đề quan trọng: thứ nhất, tiền lương phải theo định hướng thị trường, nghĩa là lương phải đủ cho người lao động sống, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường lao động và phải dựa trên sự thoả thuận, đối thoại qua thoả ước tập thể. Thứ hai là, không được vi phạm nguyên tắc phân biệt đối xử về tiền lương, cần tháo bỏ quy định gò bó thang bảng lương trong doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Theo lộ trình đến 2010 mới sáp nhập lương tối thiểu giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, việc thực hiện thống nhất một mức lương tối thiểu đối với Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Tiền lương tối thiểu của Việt Nam có quá nhiều ràng buộc với hệ thống an sinh, là cơ sở để điều chỉnh lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc. Chính vì vậy việc thống nhất một mức lương tối thiểu cao như ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ở các nước, lương tối thiểu gắn với lạm phát và thường được điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với chỉ số giá sinh hoạt. Trước tình hình đó, Việt Nam định hướng sẽ cải cách tiền lương theo hướng giảm dần các yếu tố can thiệp của Nhà nước và tăng cường sự tự chủ của các doanh nghiệp trong việc trả lương.
b, Pháp luật chống bán phá giá và cạnh tranh.
Chính sách và pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ cũng là nền tảng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và đông đảo người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là thực thi các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong việc mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài, bước vào sân chơi chung toàn cầu.
Trong quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh, các Pháp lệnh Chống bán phá giá, Pháp lệnh Chống trợ cấp và Pháp lệnh Tự vệ, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, Bộ Thương mại đã nhận sự quan tâm và tham gia góp ý của các bộ, ngành quản lý nhà nước, các hiệp hội ngành hàng, các chuyên gia từ các trung tâm giảng dạy nghiên cứu pháp luật, các hãng luật trong nước và ngoài nước và toàn thể cộng đồng doanh nghiệp. Sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước và đông đảo các tầng lớp xã hội chính là chìa khóa cho thành công trong công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm đưa pháp luật đi vào đời sống, thật sự phát huy được tác dụng và hiệu quả. Tuy nhiên, việc xây dựng và ban hành Luật Cạnh tranh, các Pháp lệnh đã khó, việc thực thi hiệu quả để Luật Cạnh tranh đi vào cuộc sống còn khó hơn nhiều, cần có sự nỗ lực từ cả hai phía là các cơ quan nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp.
Về phía Chính phủ và các bộ, ngành, cần triển khai những biện pháp đồng bộ sau:
-Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và đông đảo người tiêu dùng về tầm quan trọng và các yêu cầu thực thi Luật Cạnh tranh; các Pháp lệnh Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và Tự vệ trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế thông qua quy chế thành viên WTO.
-Hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ và các quy định khác theo hướng nhất quán, phù hợp, không ảnh hưởng môi trường cạnh tranh, không ngăn cản các hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp.
-Kiện toàn cơ cấu tổ chức và đào tạo nguồn nhân lực cho các cơ quan thực thi pháp luật... Tại nhiều thành viên của WTO, số lượng người trong các cơ quan chịu trách nhiệm điều tra những vụ việc này lên đến con số hàng trăm người (Hoa Kỳ, Canada, Ấn Ðộ...) trong khi ở nước ta mới chỉ có hơn 20 người. Với công việc còn mới mẻ, đội ngũ nhân sự của Cục Quản lý cạnh tranh chưa có nhiều kinh nghiệm để xử lý và điều tra các vụ việc phức tạp và kéo dài như các cuộc điều tra cạnh tranh, chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ. Vì vậy, cần sớm có chính sách nâng cao năng lực và tăng cường nguồn nhân lực cho Cục để hình thành một đội ngũ cán bộ chuyên môn hóa về xử lý các vụ việc về cạnh tranh chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.
-Xây dựng cơ chế phối hợp công tác giữa Bộ Thương mại và các cơ quan ngành, đặc biệt các ngành có cam kết mở cửa khi gia nhập WTO. Trong quá trình thực thi pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, cơ quan điều tra cần có sự phối hợp chặt chẽ với các bộ trực tiếp quản lý sản xuất để làm rõ hơn về ngành sản xuất, thực trạng cạnh tranh, các vấn đề mang tính chất chuyên môn, thông lệ kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành.
-Việc đào tạo nâng cao năng lực về các biện pháp chống phá giá, chống trợ cấp và tự vệ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này là hết sức cần thiết và cấp bách, góp phần tăng cường sự hợp tác và hỗ trợ của các bộ, ngành trong việc thi hành các quy định pháp luật liên quan.
-Ðối với các địa phương, cần xây dựng phương án, kế hoạch khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương, phát huy thế mạnh sẵn có, vượt qua những thách thức. Các cơ quan, đơn vị tại địa phương cũng cần tránh ý thức cục bộ, địa phương chủ nghĩa, đưa ra các chủ trương, chính sách thiên vị làm suy yếu sức cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương, tổn hại đến môi trường kinh doanh chung và trái với những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.
-Ðối với cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng:
Việc tìm hiểu và tiếp thu tốt các nội dung và định hướng cơ bản của Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh Chống bán phá giá, Pháp lệnh Chống trợ cấp và Pháp lệnh Tự vệ cùng các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao chuẩn mực và chất lượng hoạt động của mình. Mặc dù ngăn cấm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh, nhưng các văn bản pháp luật này có nhiệm vụ chính là hướng dẫn doanh nghiệp cách hành xử đúng đắn trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật sẽ giúp doanh nghiệp lớn mạnh và bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung.
Doanh nghiệp cần nhận thức được đầy đủ và tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu cạnh tranh lành mạnh không chỉ trong nước mà còn tại các thị trường thành viên của WTO, do nguy cơ các vụ kiện thương mại quốc tế ngày càng gia tăng. Cần có những đầu tư nghiêm túc cho các hoạt động nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại, tư vấn pháp lý... nhằm giảm thiểu những rủi ro cho doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, nhất là trước những cơ chế phức tạp mà các thành viên khác trong WTO dựng lên thông qua các quy định về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, nhằm bảo hộ cho sản xuất nội địa kém cạnh tranh của họ.
Luật Cạnh tranh và các Pháp lệnh đã cung cấp những công cụ pháp lý cần thiết giúp doanh nghiệp có thể tự bảo vệ mình tr

1. Môi trường bên trong doanh nghiệp

Môi trường bên trong là các yếu tố thuộc về bản thân doanh nghiệp bao gồm:

Vì sao doanh nghiệp cần phải nghiên cứu môi trường quản trị

Môi trường bên trong

Vì sao doanh nghiệp cần phải nghiên cứu môi trường quản trị

Nền văn hóa

Quản lý bán hàng chuyên nghiệp - tối ưu hóa doanh thu với Nhanh.vn

Vì sao doanh nghiệp cần phải nghiên cứu môi trường quản trị

Dịch vụ SEO website - Thiết kế Website

★★★★★ 7 đánh giá trên Google
Văn phòng công ty

Địa chỉ: Số 5 Trần Kim Xuyến - P.Trung Hoà - Q.Cầu Giấy - TP. Hả Nội

Điện thoại: 0922 892 892

Trang web: Bangnam.com

Từ Dịch vụ SEO website - Thiết kế Website

"BANGNAM là đơn vị cung cấp Dịch Vụ SEO, Dịch vụ thiết kế Website, Giải pháp quản trị doanh nghiệp ERP hàng đầu tại Việt Nam."

Mọi người cũng tìm kiếm

Thiết kế website Hà Nội
Nhà thiết kế trang web
Thiết kế website bán hàng
Nhà thiết kế trang web
Dịch vụ SEO
Nhà tối ưu công cụ tìm kiếm
Thiết kế website TP HCM
Nhà thiết kế trang web
Thiết kế website Hà Nội
Nhà thiết kế trang web